Saturday, 10 September 2016

“Đời no ấm nghĩ càng xấu hổ,”



Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 25 thường niên năm C 18/9/2016

Tin Mừng (Lc 16: 1-13)

Khi ấy, Đức Giêsu còn nói với các môn đệ rằng: "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. Ông mới gọi anh ta đến mà bảo:"Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa! Người quản gia liền nghĩ bụng: "Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!

"Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: "Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: "Một trăm thùng dầu ô-liu. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi. Rồi anh ta hỏi người khác: "Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: "Một ngàn giạ lúa. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.

"Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. "Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.

Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em? "Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."

“Đời no ấm nghĩ càng xấu hổ,”
Vắt đâu ra giọt nước mắt thầm.
Sống vật chất làm đời ô uế
Biết bao giờ gột sạch tâm-linh,
Ta chỉ biết làm thơ thương tiếc.
Đọc lên nghe hằn học với mình.”
(Dẫn từ thơ Bắc Phong)

Ấm no – vật chất, đâu có làm thi sĩ thêm hạnh-phúc. Vì, thi-sĩ cứ “làm thơ thương tiếc”, nên mới “đọc lên nghe hằn học với mình”. “Hằn học”, “thương tiếc”, là những gì được nói đến hôm nay. Trình-thuật hôm nay, kể về đời ngạo-nghễ của nhà kinh bang tế thế biết tính toan, bươn chải. Khôn ngoan – bươn chải Chúa khen, là sự khôn khéo của con cái thế-gian, ta thường thấy.

Vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, tiên tri Amos đến vương quốc Israel, thấy xứ sở này giàu có thật. Nhưng, ở sau hậu trường chính trị và cuộc sống linh đạo, tiên tri công nhận thế giới đầy những bất công, bóc lột người nghèo. Tố giác của tiên tri, đem áp dụng với thế giới hôm nay, thật cũng không ngoa. Vẫn cân đo, đong đếm bằng cân bàn/vi tính, nhưng chuyên gian lận. Cũng hàng hóa chất chồng, nhưng mọi giá trị căn bản đều giảm sút. Hết thảy đều để mua chuộc/khai thác người nghèo bằng tiền của và công lao, không công chính.

Sau hơn hai ngàn năm văn vật, mọi sự đâu đã đổi thay. Hệ thống an sinh mang đến phúc lợi thật, nhưng người nghèo vẫn hoàn nghèo. Phúc lợi trần gian chỉ là kết cuộc của những chia chác mất cân bằng, trong xã hội. Ngày nay, người người hầu như sơ cứng/bất động trước cảnh đời đầy cướp bóc, chém giết ở ngoài đường. Và, cả ở trong trường học, nữa. Người nghèo vô tội có đói, có chết tràn đồng, thì lớp giàu “thành thị” vẫn cứ dửng dưng, ăn trên đầu trên cổ những người này. Và, lối sống xa hoa/phù phiếm càng quyến rũ người người mải miết, quyết làm ăn.

Đọc những tố giác của tiên tri, chắc có người sẽ bảo: làm giàu một cách chân chính đâu có gì là phạm tệ, sao phản đối. Dĩ nhiên, người Công giáo ta có quyền sống giàu sống mạnh, sống thoải mái mà chẳng ai đụng chạm đến mình. Nhưng, định nghĩa cho đúng, không ai có thể trở nên giàu có nếu như không có người nghèo để chịu đựng cảnh dồn ép/khai thác hoặc bỏ rơi nơi tăm tối. Định nghĩa cho đúng, chỉ gọi được là giàu, những ai nhiều tiền/nhiều của hơn giới bình thường bậc trung, thôi. Và, nếu không có người nghèo để cung phụng, thì làm sao có thể giàu, được?

Lại có người biện luận: Hội thánh ta nên có thái độ nào với xã hội và đám kinh tế cầm quyền? Có người hỏi thêm: Giáo hội ta có nên làm ăn/kinh doanh kiếm chác thêm để nuôi dưỡng hệ cấp giáo triều, không? Hoặc: Giáo hội mình cũng đang làm ăn đấy chứ?, vv... Nếu đặt câu hỏi này với tiên tri Amos, ta sẽ biết thế nào là phải/trái. Và, nếu thưa với Đức Kitô, ta sẽ nhận được câu trả lời, đại loại như: “Người giàu vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim.”

Khó, không phải chỉ vì anh giàu. Bởi, muốn giàu và có, anh phải thu vén của cải nơi kho lẫm, để tích trữ. Và, tiền anh có, là do anh ăn ở bất công với người khác. Chí ít, với người nghèo hơn anh. Bất công với người khác, tức chối bỏ tình yêu thương giùm giúp những người còn túng thiếu, thua thiệt. Và, khi đã bất công, không thể nói được là anh yêu Chúa, rất nhiều. Yêu Chúa nhiều, mà sao anh quên người anh em, nghèo và đói hơn anh? Những người như anh, có lẽ bị từ chối ngay trước cửa Nhà Chúa, từ lâu.

Và ở đây, thánh Giacôbê còn nhắc nhở thêm trong thư hôm trước: ta không thể đơn giản nói “Tôi thực lòng thấy tội nghiệp cho anh/chị về những khó khăn anh/chị gặp, nhưng tôi không biết làm gì hơn là cầu nguyện cho chị/cho anh vào tiệc thánh, sắp tới.”

Ngày nay, kinh tế-tài chánh, doanh thương cạnh tranh, đã va chạm làm xáo trộn đời sống đạo đức của người nhà Đạo, từ lâu rồi. Xáo trộn và va chạm, đã lật đổ các giá trị và trật tự ngàn xưa. Xáo trộn và va chạm, làm chao đảo phẩm giá con người. Chao đảo quyền căn bản của con người, quyền làm người. Xáo trộn và va chạm làm chao đảo đến độ, ta nay chối bỏ lòng yêu thương giùm giúp, hết mọi người. Sống trong xã hội trọng tiền tài vật chất hôm nay, người người dường như chấp nhận có ăn có thua. Thậm chí, có người còn chụp mũ, bảo: “vận may thế kỷ” đó!

Đáng buồn thay, hôm nay nhiều người vẫn coi việc bất công, bóc lột người nghèo như chuyện “bình thường”, cứ xảy ra. Thậm chí, có tín hữu Đức Kitô cũng có mặt trong số những người luôn ngoảnh mặt làm trước cảnh anh em trong/ngoài giáo hội, đang túng thiếu. “Bình thường” sao được, khi người anh người chị của ta cứ phải sống trong các khu nhà “ổ chuột”, thiếu tiện nghi. “Bình thường” là sao, khi các em các cháu trong/ngoài nhà Đạo cứ hộc mật lao động suốt không được ngơi nghỉ/ăn học. Và làm, chỉ kiếm được đồng lương rách mướp, rẻ mạt?    

Có “bình thường” không, khi ta cứ chễm chệ ăn trên ngồi chốc, trên đầu trên cổ những người anh em còn nghèo và đói. Nhất thứ, là khi tiền bạc người giàu lấy được là do khai thác/bóc lột sức lao động của những người con/người em còn yếu/kém, thiếu điều kiện để ngoi đầu. Tín hữu Đạo công bằng tình thương của Chúa không thể ở yên ngồi đó, làm ngơ trước cảnh sống thiếu cân bằng, trong xã hội. Có vị thậm chí, không chỉ ngoảnh mặt làm ngơ thôi, nhưng còn trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần làm cho tình trạng mất quân bình trong xã hội, thêm trầm trọng. 

Vấn đề đặt ra là: không phải cứ ngồi đó mà tranh đấu bằng võ mồm cho công bằng xã hội, mà thôi. Hoặc, chẳng bao giờ ra tay hành động tích cực để xóa bỏ tình trạng bất công, không đồng đều. Lại nữa, về phẩm giá và quyền hạn của con người, không ai được phép tự cho mình cái quyền đặt mình ăn trên ngồi chốc, hơn hẳn những người nghèo đói khác. Và, bất cứ người nào có hành động nhằm làm suy giảm phẩm giá con người, đều không được chấp nhận, dù ở đâu. Nhất thứ, đó lại là tín hữu Đức Kitô, nơi nhà Chúa.

Dĩ nhiên Phúc Âm đề cập, có người được phú ban nhiều tài năng hơn người khác. Dù là thế, quà tặng Chúa ban vẫn phải được sử dụng đồng đều. Quà Ngài tặng, không phải để ta kiếm chác nhiều hơn thêm. Nhưng, giúp ta cống hiến nhiều hơn để rồi ta cùng nhau dựng xây Cộng đoàn tình thương Nước Trời. Quà tặng ta nhận càng lớn, trách nhiệm ta san sẻ càng nhiều. Bởi, san sẻ, là chia sớt cho những người có ít hơn ta. Ý tưởng “hãy nhớ mà san sẻ”, còn được thánh Phao-lô khẳng định ở bài đọc thứ hai, khi thánh nhân khuyên đồng nghiệp Timôtê hãy nguyện cầu cho tất cả mọi người. Mọi người ở đây, gồm có cả “vua quan lãnh chúa và người cầm quyền, để sống đạo đức, nghiêm chỉnh.”(1Tm 2: 2).

Phúc Âm hôm nay, cũng đề cập đến quyền hạn của người quản gia. Anh là người có trọng trách cai quản tiền bạc - tài sản của chủ. Quản gia trong trình thuật, là người bị tố giác phung phí của cải, nhà chủ. Kể dụ ngôn, Đức Kitô không chủ tâm khuyến khích tính bất lương của người làm công. Nhưng, Ngài muốn kéo chú ý về tính lo xa của “con cái đời này”, luôn khôn khéo. Với con cái ánh sáng, lời cuối của Chúa trong trình thuật, là: “Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo bạn bè.” (Lc 16: 9). Qua khuyên nhủ, Đức Kitô nhắc nhở mọi người: ta chỉ là quản gia chứ không là chủ nhân ông tiền bạc/tài sản ta đang có. Xem như thế, không thể như con cái đời này, nói: “Tôi dùng tiền của tôi làm chuyện gì, thì mặc kệ tôi chứ!”. Con cái ánh sáng không thể có những lời lẽ như thế. Bởi, như thế là trái công bằng. Như thế, là trái nghịch lời dạy của Chúa.

Cuối cùng ra, vấn đề là: ta quyết tạo cuộc sống thoải mái/hạnh phúc, có đạt được hay không, không phải ở nơi câu hỏi: ‘Tôi giàu cỡ nào?’ mà là: ‘Tôi có sử dụng nó để tạo bạn bè, như Chúa dạy, không? Xác tín với lời khuyên của Người Bạn Rất Thân là Thầy Chí Thánh, ta quyết hân hoan “đi mà làm như thế”.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn –
Mai Tá lược dịch.

Saturday, 3 September 2016

“Thiên đường đó xa rồi anh đơn lạnh,”



Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 24 thường niên năm C 11/9/2016

Tin Mừng Tin Mừng: (Lc 15: 1-32)

   Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Yêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Yêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:

    “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó’. Vậy tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

   “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may mấy một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ’Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”

   Rồi Đức Yêsu nói tiếp: “Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: ‘Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.’ Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

   “Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: ‘Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

   “Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…’ Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rôi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng. “

   Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy tả lời: Em cậu đã về, và cha cậu dã làm thịt bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh  khoẻ.’ Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: ‘Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!’

   “Nhưng người cha nói với anh ta: ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”

“Thiên đường đó xa rồi anh đơn lạnh,”
Thích lang thang, thích ngổ-ngáo với đời.
Thích hoang-đàng, thích phiêu-bạt rong chơi,
Vì mất em, chẳng còn gì hạnh-phúc.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Trung Nghĩa)

Trình thuật hôm nay thánh Luca diễn tả về chuyện đánh mất. Mất chiên, mất tiền, mất người con yêu, nay về lại. Dụ ngôn “người em đi hoang” đã trở về với niềm vui của Cha, là chủ đề chính được mô tả rất kỹ. Mỗi chi tiết, từ ý tứ đến lời văn, nhất nhất qui về niềm vui của Cha khi tìm được những gì đã mất. Ở bài đọc thứ nhất, Môsê đã tìm được tâm tình yêu thương nhân hiền của Đức Chúa, sau cơn lôi đình Người nổi giận vì dân Do Thái vô ơn, bạc nghĩa. Ở bài đọc thứ hai, tình yêu đại lượng của Đức Kitô trao ban trở lại cho thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân tìm được niềm tin yêu đánh mất. Và ở bài Phúc Âm, niềm vui mừng cao điểm khi người mục tử tìm được chiên lạc, người phụ nữ tìm ra tiền lạc mất. Và, Cha mở rộng vòng tay đón người con đi hoang trở về.

            Ở trình thuật hôm nay, Cha Nhân Hiền đóng vai trò trọng tâm trong dụ ngôn. Dù người con yêu cầu phân chia gia sản, vung tiền ăn chơi trác táng, mất đi “thiên đường” của giòng họ, Cha vẫn chờ, không giận dữ, chẳng tiếc nuối đã sai đường. Chẳng lên án con bất hiếu. Cha vẫn chờ con về để rộng lòng xót thương, vỗ về.

            Đọc dụ ngôn theo nhãn giới thời bây giờ, hẳn mọi người đều thấy thái độ của anh hai là đúng. Là con ngoan, bổn phận phục vụ Cha luôn chu toàn, không màng danh lợi cùng trọng thưởng, chỉ chí thú một đời làm lụng, không đi hoang phá họai. Các đặc tính ấy không có gì đáng chê trách. Nhưng, thái độ bất đồng của anh, ganh tị với em, hẹp hòi không chịu vào nhà chung vui với mọi người. Đây, chính là thái độ tiêu cực, không được Cha cổ võ.

            Cân nhắc - phẩm bình, là chuyện rất nên. Nhưng quan trọng hơn cả, là: nghe dụ ngôn, phải đặt mình vào bối cảnh của truyện. Dụ ngôn “người em đi hoang” được mở đầu bằng câu: “Các người thu thuế và tội lỗi đều tìm đến Đức Giêsu để nghe Ngài giảng.” Ở đây, dụ ngôn làm nổi bật hai mức độ/lĩnh vực có liên quan hỗ tương. Trước tiên, là sự đối chọi giữa hành vi của người cho mình đạo đức chính trực với tư thế của người bị coi là ngoại cuộc, do thái độ đạo đức của họ. Thứ đến, là thái độ của con dân Đức Chúa (mà đại diện là người con cả “chả bao giờ trái luật”) với người “ngoài Đạo” được đánh giá là người vô luân và phi luân lý (mà người con thứ là đại diện).

            Các cụm từ chính được dùng ở đây, là: “tìm đến” và “nghe giảng dạy” tất cả mọi người –chẳng cần biết trước đây và bây giờ có thái độ thế nào-  nếu chủ tâm biết “tìm đến” Đức Giêsu và ước ao được “nghe Ngài giảng”, thì nhất định không thể là người tội lỗi. Bởi vì, nếu định nghĩa cho chính xác, thì chỉ là người tội lỗi, những ai ngưng không “tìm đến” Đức Giê-su và thôi không muốn “nghe Ngài giảng dạy” nữa, mới đúng. Thật ra, Đức Giê-su vẫn thấy nơi những người tụ tập quanh Ngài, là những người thực sự “tìm đến” Ngài , và muốn “nghe Ngài giảng dạy”, để rồi sẽ đổi thay.        
  
            Trong khi đó, nhóm Pharisêu và các kinh sư đều nhìn tất cả mọi người ở ngoài nhóm của mình đều rập khuôn mang nhãn hiệu “kẻ tội lỗi”. Chính vì thế, họ mới xầm xì về Đức Giêsu, rằng: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15: 2). Đối lại, Đức Giê-su không tranh luận với họ bằng những giải thích giông dài thần học. Ngài dùng dụ ngôn để kể. Và hôm nay, vì họ “đánh mất thiên đường, nơi anh có em”, nên có đến ba bài dụ ngôn được Ngài kể. Cả ba, đều qui về một chuyện: Đức Chúa yêu thương hết mọi người. Ngài mong mọi người quay về với Ngài. Cả khi phạm tội tày trời, Ngài vẫn giang tay nghênh đón.

            Tuy nhiên, ở đây dễ hiểu lầm mà cho rằng, dù ta làm gì tệ phạm đi nữa, cuối cùng rồi Chúa cũng xót thương, tha thứ. Vậy nên, cứ tha hồ làm điều xấu. Trong tương quan với Đức chúa, có hai việc cần minh định. Trước nhất, Chúa yêu thương mọi người chúng ta. Tình yêu của Ngài không mang điều kiện nào hết. Chẳng cần biết ta là ai? Ta có làm gì chống Chúa, chống anh em? Tình yêu Ngài đối với ta, tuyệt nhiên không suy xuyển. 

            Thứ đến, có điều chắc chắn, là: chẳng phải vì ta hiền lành/thánh thiện mà Ngài sẽ yêu hơn hoặc nếu ta phạm lỗi, Ngài yêu ít đi. Thiên Chúa là Tình yêu. Tình Ngài yêu ta rất trọn vẹn. Dù là, đối với các vị thánh như Mẹ Têrêsa. Hoặc, với các kẻ độc tài, hình sự. Bởi nếu không, thì Ngài cũng thiên vị, như ai. Chính vì thế, Ngài mới bảo: “Có là người bệnh mới cần đến thầy lang.”

            Dầu sao, Việc Chúa thứ tha mọi tội, là hành xử vô điều kiện. Điều này thấy rõ nơi dụ ngôn “người em đi hoang” có thái độ của người con đã trót dại: “thích lang thang, ngổ ngáo với đời” và “thích phiêu bạt rong chơi”, như nhà thơ diễn tả. Dù rồ dại, Cha vẫn yêu đứa con “hoang tàng”. Cha không mang thành kiến, hoặc kỳ thị các con: “mãi từ xa trông thấy, Cha đã chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ người con, và hôn lấy hôn để…” Tình yêu của Cha là như thế. Nhưng tình thương yêu tha thứ của Cha chỉ nên trọn vẹn, khi con biết tỉnh giấc, quay về. Nói khác đi, chỉ có thứ tha trọn vẹn khi có hoà giải. Khi vết thương chia cách được chữa lành. Đây chính là ý nghĩa của bí tích hoà giải, thứ tha.

            Trong hòa giải với Chúa, bước dấn thân đầu tiên như “người em đi hoang” đã nghĩ là bước quan trọng. Quan trọng, vì biết chắc Cha sẽ giang rộng đôi tay già ra chào đón ta trở về. Chẳng còn chữ “nếu”, chữ “nhưng”. Chẳng điều kiện, cũng không dè chừng. Không hình phạt, cũng chẳng đòi bồi thường. Điều này, được thánh Phaolô mạnh dạn nói rõ: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu người tội lỗi, mà kẻ đầu đàn là tôi.” (1Tm 1: 15) 

            Cũng thế, đường lối Chúa đón nhận “người em đi hoang” trở về, phải được chứng xác bằng tương quan ta có với người khác nữa. Trong lời cầu Chúa dạy, rõ ràng ta vẫn quyết: “Xin tha cho con mọi lỗi lầm trót phạm, cũng một kiểu như con đã làm cho người anh em.” 

            Cuối cùng ra, khi đã được tha thứ, cũng nên nhớ thêm Lời Ngài đã phán: “Hãy trở nên trọn lành, vì Cha của chúng ta trên trời là Đấng trọn lành”. Điều này mang ý nghĩa rất sáng tỏ: hãy yêu thương hết mọi người, một cách vô điều kiện, như Chúa hằng yêu ta. Và, hãy sẵn sàng tha thứ cũng như hòa giải với từng người như Ngài đã từng làm như thế, với từng người một.

            Việc này không dễ. Nhưng không phải là chẳng thể làm được. Nhưng với sự trợ giúp của Cha, ta luôn hy vọng. Vào tiệc lòng mến  hôm nay, ta cứ hân hoan và hy vọng. Hy vọng là Chúa vẫn thứ tha. Hy vọng là ta cũng sẽ tha thứ hết mọi người. Từ “người em đi hoang” thích phiêu bạt giang hồ, cho chí người anh “vẫn hầu hạ Cha, chẳng khi nào trái lệnh”, và tất cả mọi người.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn  -
Mai Tá lược dịch.

Saturday, 27 August 2016

“Trong mọi lúc hãy giữ lòng cao thượng”,



Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 23 thường niên năm C 04/9/2016

                                                            Tin Mừng Tin Mừng: (Lc 14: 25-33)

Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ:

"Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được. "Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: "Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc. Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.


“Trong mọi lúc hãy giữ long cao thượng”,
“không tỵ hiềm, không giận dữ ghen tuông.
Xoá hận-thù bằng mọi dấu yêu thương,
Mỗi kinh-nghiệm là một thày dậy dỗ.”
(Dẫn từ thơ Nguyên Đỗ)

“Giận dữ, ghen tương cùng tỵ hiềm xót xa”, nhất nhất đều là những đau thương đuối ngã trên đường đời. Con đường lâu nay vẫn thắm đượm nhiều kinh nghiệm cần lướt thắng. Lướt bằng yêu thương. Thắng bằng tha thứ. Bằng cách giữ lòng cao thượng như Chúa dạy, suốt hôm nay. Lời Chúa dạy hôm nay, thoạt nghe ta tưởng như đó là nghịch lý, rất khó nghe. Nghịch lý và khó nghe, là bởi nếu không thận trọng ta những tưởng Chúa dạy phải giận hờn ghét ghen. Ghét vợ ghét con, ghét cha mẹ ghét cả người thân ta cứ tưởng là có ghét như thế, mới được gần gũi với Chúa. Với Cha.

Không. Không phải thế. Trình thuật hôm nay, thánh sử Luca muốn diễn bày quyết tâm của  các đồ đệ theo Chúa. Thánh sử diễn tả bằng những lời lẽ rất triệt để. Điều, thánh nhân muốn nói, là: khi đã dấn bước theo chân Chúa, con dân nhà Đạo cũng nên dứt khoát tư tưởng, cho trọn tình trọn nghĩa. Trọn tâm can. Trọn tình vẹn nghĩa, tức chấp nhận lối cảm nghiệm rất sâu sắc về cuộc đời. Cảm nghiệm để rồi, đem thái độ sống ấy vào chính con đường mòn ta đi, trong cuộc đời.

Đọc Tin Mừng thánh Luca với đầu óc hoàn toàn cởi mở, không theo theo nghĩa đen. Không thành kiến rất tối, người đọc hẳn sẽ nhận ra rằng thánh Luca không có ý bảo: hãy ghét hết mọi người. Hoặc, ghét bỏ chính mình. Ngược lại, thánh sử kêu gọi người người hãy yêu thương giùm giúp lẫn nhau. Yêu thương giùm giúp mà chẳng cần tìm hiểu hoặc cứu xét xem người ấy là ai. Người ấy có đáng yêu không. Cũng chẳng cần xét xem người ấy có là họ hàng người thân, không.

Những gì Đức Kitô căn dặn nơi trình thuật, đã đưa ta về lại với xác tín ta vẫn có từ trước. Đặc biệt hơn cả, là: dụ ngôn kể về người Sa-ma-ri tốt bụng, mới đề cập hồi tuần trước. Điều này còn ghi rõ nơi lời nguyện cầu “Lạy Cha”, Chúa vẫn khuyên.

Xem như thế, đã là đồ đệ theo chân Chúa, hết thảy đều phải tâm niệm câu nói nằm lòng “tứ hải giai huynh đệ”. Tức, anh em bốn bể đều người nhà. Con cái muôn phương đều một Cha. Người Cha yêu thương. Cha trên trời. Đó là điều Đức Chúa dạy tất cả các người con dưới thế: hãy yêu thương nhau như con một nhà.

Trình thuật hôm nay, nhấn mạnh đến nền tảng của Đạo: tương quan với Chúa. Tương quan – hiệp thông với Chúa, phải được dẫn chứng bằng đường lối ta cư xử với các người anh, người chị cùng một Cha. Đường lối cư xử, tức cách xử sự của những người con cùng Cha trên trời, không tùy vào hệ thống quân giai rắc rối, như ở đời. Cũng chẳng tách bách họ hàng như gia tộc. Tương quan và hiệp thông với Chúa, không thể cân đong đo đếm bằng những danh xưng/chức tước, tiền bạc của cải, hoặc tôn giáo, nghề nghiệp, hoặc giai cấp xã hội. Tương quan với Chúa, là tâm tình thân thương trìu mến được diễn bày với người dưng khác họ, ở đâu xa. 

Trình thuật hôm nay, còn bàn về tương quan ta đang có giữa những người anh em đồng hội đồng thuyền, sống gần gũi với ta. Trong tương quan đối xử, điều quan trọng không nằm ở chỗ: người này người kia đánh giá thế nào về ta. Nhưng, bằng vào mức độ ta quan tâm chăm sóc mọi người đến thế nào. Quan tâm chăm sóc ấy còn được gọi là lòng yêu thương xót xa thể hiện bằng cử chỉ và tâm tình khi ta tiếp xúc với những người dưng khác họ, mà thôi.

Ai tìm sự bình an hài hoà nơi thái độ quan tâm chăm sóc những người ngoài luồng, ngoài Đạo, thì người ấy sẽ cảm nghiệm được điều mà thánh Phao-lô khẳng định trong thư gửi cộng đoàn tín hữu Do thái: “Nơi mà anh chị em phải đến, đó chính là núi Sion. Là chốn thành đô của Thiên Chúa cùng với toàn thể Hội thánh ở nơi đó mỗi người là “trưởng tử” và là công dân của Nước Trời.”

Trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh thêm điều này: chúng ta đương nhiên là đã yêu thương người thân thuộc cùng giòng họ. Không cần nói cũng biết. Nhưng, điều hệ trọng Chúa ân cần dặn dò, là: nếu ta chỉ yêu thương đùm bọc người thân yêu ruột thịt mà thôi, như thế hoàn toàn không trọn nghĩa, vẫn chưa đủ.

Giả như, ta chỉ thỏa mãn ước nguyện của người thân yêu/ruột thịt mà thôi, chẳng đoái hoài đến nhu cầu và thân phận của người dưng khác họ nào khác, tức là ta đã bất công với gia đình rộng lớn gồm những người con cùng Cha trên trời. Nếu không nhận ra người anh người chị trong gia đình lớn như người thân thuộc, ta không thể nào trở thành đồ đệ của Thầy Chí Thánh. Bởi, như thánh sử Luca ghi rõ:“Mỗi lần các ông từ chối không chăm sóc những người anh chị em của Ta, tức là các ông từ chối chính Ta.

Nếu chỉ yêu thương đùm bọc mỗi giòng họ người thân của mình, thôi. Đó là thứ “ghét bỏ” mà Đức Giê-su không muốn con cái và đồ đệ Ngài thực hiện. Nói tóm lại, là người theo Chúa đích thật, ta phải nhận ra sao bản của Thầy Chí Thánh nơi tất cả những người anh người chị thân thương hoặc chỉ người dưng khác họ, không hơn không kém.

Yêu thương đùm bọc Đức Giê-su nói đến, còn được thánh Phao-lô bổ túc bằng thư tâm tình xin anh Phi-lê-môn nhận người dưng khác họ là nô lệ Ônêximô làm người anh em thân thuộc: “Tôi xin anh cho đứa con sinh ra trong cảnh xiềng xích, xin gửi về anh để xin anh đón nhận như người ruột thịt.” (Plm 1: 10-14).

Tình yêu thương mà thánh nhân đề cập là tha thứ cho những gì nô lệ Ô-nê-xi-mô đã làm. Nay người nô lệ ấy đã trở thành anh em cùng nhà. Nhà của tín hữu Đức Kitô Nhân Hiền. Ở nơi đó, mọi người coi nhau như anh em ruột thịt.

Cuối cùng, cởi bỏ mọi hình thức thân cận, ruột thịt là để ta có được tự do mà theo đuổi sự thật. Sự thật về lòng yêu thương đùm bọc luôn thăng hóa. Và, khi đã thăng hóa trong yêu thương như thế, mọi người theo chân Chúa sẽ tự tạo cho mình niềm phấn khởi sẵn sàng lập một hành trình. Hành trình luôn “có lòng cao thương; không tỵ hiềm, không giận dữ ghen tuông”. Nhưng, xóa bỏ hận thù bằng mọi dấu yêu thương.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn  -
Mai Tá lược dịch.