Wednesday, 20 June 2018

“Anh chắp tay van, dáng tượng sầu,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 12 thường niên năm B 24/6/2018

Lc 1: 57-66, 80  Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Êlisabét sinh hạ một con trai.58 Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.
Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Dacaria mà đặt cho em. Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: "Không, phải đặt tên cháu là Gioan." Họ bảo bà: "Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả." Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: "Tên cháu là Gioan." Ai nấy đều bỡ ngỡ. Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giuđê. Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi: "Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?" Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

“Anh chắp tay van, dáng tượng sầu,”
“Người em mây toả, gót chân đau.”
(dẫn từ thờ Đinh Hùng)

Nhà thơ, nay chắp tay van người em có gót chân đau, dáng tượng sầu, cho mây toả. Nhà đạo mình, tay này cũng chắp nhưng chỉ để ngợi ca/tuyên dương đấng thánh nhiệm mầu, ở trình thuật.

Trình thuật, thánh Luca không cho thấy đấng thánh ngợi ca riêng người nào. Nhưng, chỉ ghi đôi điều để dân con Chúa sẽ mãi tuyên dương đấng thánh Tiền Hô, rất tưng bừng ngày lễ hội.

Hội lễ hôm nay, con dân Chúa lại đã thấy phụng vụ mừng kính thánh Gioan Tiền Hô những hai lần. Một, vào ngày sinh dịp tháng 6. Và ngày kia, là ngày tử thánh nhân bị Hêrôđê truyền lệnh chém đầu theo yêu cầu của “Hêrôđia”, một nữ phụ tội lỗi. Phụng vụ, lại cũng đề cao vai trò của thánh nhân loan báo tin vui Cứu Độ Chúa thiết lập với cộng đoàn lành thánh, có anh em. Trình thuật về thánh Gioan Tiền Hô/Tẩy rửa xuất hiện ở nhiều tài liệu lịch sử cũng như Tin Mừng.

Theo tài liệu của Josephus, thánh Gioan Tiền hô được tả qua nhận xét của người Do thái lúc bấy giờ. Với họ, Gioan Tiền Hô là đấng thánh liên tục mời gọi mọi người sống đời đạo hạnh biết kính Chúa và chứng tỏ tình thân thương mình có với mọi người, và với nhau. Thánh nhân cũng mời mọi người hãy đến bên giòng chảy Gio-đan để rửa lòng cho sạch, để chẳng còn phải vương vấn gì. Nhưng, tài liệu này không đả động gì đến ngày sinh, cũng như lý lịch gia đình của thánh Gioan hết.

Tin Mừng thánh Máccô lại đã ghi thêm đôi điều về đời khắc khổ của thánh nhân vốn chọn con đường khổ ải vùng hoang vu/sa mạc hầu lôi kéo nhiều người bước vào chốn tẩy rửa, nguyện cầu. Thánh Máccô gọi thánh Gioan Tiền Hô là ngôn sứ hiếm có sau nhiều thế kỷ vắng bóng trong đạo. Theo thánh Máccô, thì Đấng thánh Tiền Hô lại đã mang đến cho những người dấn bước theo Ngài thông điệp hằn sâu nơi sự việc người Do thái khi xưa trở về từ chốn lưu vong, khắc khổ. Đặc biệt hơn, thánh Máccô còn tả thánh Gioan Tiền hô như đấng bậc dám bước chân vào chốn nguyện cầu khắc khổ ở sa mạc, trước Đức Chúa. Tuy thế, thánh sử không ghi gì thêm về thuở thiếu thời của đấng thánh Tiền Hô, rất chân chất.        
  
Trong khi đó, tác giả Tin Mừng thứ tư lại đặt đấng thánh Tiền hô ở vào vị trí khiêm tốn, mọn hèn. Thánh sử Gioan Tông đồ ghi mỗi sự kiện về đấng thánh Tiền hô đã có mặt rất sớm ở Tin Mừng của ngài. Làm thế để minh chứng Đức Giêsu là ai? Đấng nào? Và, thánh Gioan vẫn thẩm định rằng: mình không là Đấng Mêsia, cũng chẳng phải Êlya, mà chỉ là ngôn sứ kiểu Môsê chân truyền, ai cũng biết. Rõ ràng, Tin Mừng thứ tư cũng chẳng ghi gì về thời thơ ấu và niên thiếu của đấng thánh Tiền hô và Đức Giêsu, hết.

Riêng thánh sử Mátthêu lại có đoạn ghi thân thế của thánh Gioan Tiền hô, nhiều hơn ai hết. Thánh Mátthêu đặt đấng thánh Tiền hô nơi Tin Mừng của ngài để công khai loan báo cũng cùng một sứ mạng như Đức Giêsu nhận lãnh, cũng một văn phong, thể loại như khi tác giả tả về Thày Chí Ái. Ngôn từ thánh sử dùng chỉ đơn giản gồm mỗi thế này: Nước Chúa đã gần kề. Anh em hãy thay đổi tầm nhìn và thái độ về thế gian, để xứng đáng với tình huống lịch sử ‘có một không hai’ Chúa diễn lộ.

            Nhưng nhân vật Tiền hô ở Tin Mừng Mátthêu lại quá tập trung vào việc ứng đáp và chi tiết phán xét của Giavê hơn động thái hiền hoà Đức Giêsu vẫn hành xử. Đọc Tin Mừng Mátthêu, người đọc sẽ thấy thánh Gioan Tiền Hô trông giống nhà giảng thuyết hùng hồn giảng lớn tiếng. Thánh Mátthêu còn ghi chú thêm, là: người Do thái bình thường đã chấp nhận đấng thánh Tiền Hô thôi, riêng nhóm Pharisêu và Sađuxê, thì không thế. Chính vì vậy, thánh Mátthêu mới đặt để nơi miệng Chúa lời khẳng định về điều Ngài từng quả quyết: “Xét người phàm, chẳng ai sánh tày Gioan Tẩy giả, nhưng kẻ nhỏ nhất trong những người bé nhỏ ở Nước Trời lại cao cả hơn thánh nhân”. Nói chung, thánh Mát-thêu cũng không quan tâm đến nguồn gốc của thánh Gioan.

Thánh Luca thì khác. Thánh Luca coi thánh Gioan Tiền Hô là đấng thánh kiểu xưa/cũ, tức: chuyên lập cầu ráp nối giữa cái cũ và cái mới. Thánh nhân chính là điểm khởi đầu để cho Đức Giêsu được nổi bật hơn. Ở Tin Mừng Luca, thánh Gioan Tiền Hô là đấng bậc hiền hoà đem đến cho mọi người thông điệp rất rõ: “Hãy sẻ san của ăn/thức uống mình có và chỉ nên thu gom cho mình những gì cần thiết, đúng mức; chớ bức ép người đồng loại; và, bằng lòng với lương tiền/lợi lộc dành cho mình trong cuộc sống. Hãy nhận ơn thanh tẩy, ở giòng sông Gio-đan.” 

Ngược lại, thông điệp của Chúa còn cao cả hơn. Thông điệp Ngài lại mang tính chất toàn cầu, vượt dân nước Do thái. Thông điệp Ngài tóm gọn nơi dụ ngôn về Người Samaritanô nhân hậu và truyện “Người con đi hoang”, cũng rất rõ. Thông điệp,  Ngài loan báo cuộc tẩy sạch hết dân gian gửi đến tất cả mọi người trên hoàn vũ, chứ không ở giòng sông nhỏ mang tên Gio-đan, mà là ơn lành thanh tẩy từ Thần Khí Chúa, là Đấng sẽ hiện đến vào lễ Ngũ Tuần và cứ thế tiếp tục mãi.   

Ở Tin Mừng thánh Luca, ta nhận ra đôi điều về xuất xứ của đấng thánh Tiền Hô. Thật ra, khi cử hành mừng kính sinh nhật của thánh Gioan, nhiều người thường nghĩ về thánh nhân như đấng bậc “thanh tẩy” như phụng vụ Hội thánh vẫn làm. Thật sự, thánh nhân không chỉ làm mỗi việc ấy. Ngài còn tập hợp mọi người bên sông Giođan, đưa họ vào giòng nước để có kinh nghiệm đầm mình trong đó, như một sàng lọc, để rồi từ đó tới đất hứa đòi lại những gì Chúa ban. Đất Chúa hứa, từng bị Đế quốc La Mã tiếm quyền, chiếm ngự. Và, thánh Gioan tổ chức nghi tiết có đoàn người kéo nhau đòi lại đất cho người Do thái. Đây là động thái mang tính chính trị nhằm chống lại sức ép của Đế quốc. Thánh Gioan là khuôn mặt chính trị và là người sáng lập ra nghi tiết chống đối mang ý nghĩa châm chích, rất đau lòng.

Chỉ mỗi thánh Luca là kể về sự cưu mang và sinh nở của thánh Gioan thôi. Một phần truyện kể là về Đức Maria, Mẹ của Chúa đi thăm bà Êlizabét, thân mẫu của thánh Gioan Tiền hô để Mẹ hát bài ca “Xin Vâng” theo lời thần sứ khuyên. Có lẽ nên nhận ra nơi đây hai bài chúc tụng cùng chung ý nghĩa và mục đích nói lên sự vui mừng của thánh Gioan Tiền Hô, lẫn Đức Mẹ.

Viết như thế, thánh Luca hàm ngụ ý nghĩa một động thái mang tính chính trị của người Do thái có niềm tin rất vững vào lời ca mà Đức Maria, Mẹ của Chúa đã sáng tác cho ta, lúc Mẹ mang thai. Cả Mẹ nữa, cũng đi vào với chính trị của Chúa. Chính trị đó, ta gọi là bài ca “Xin Vâng”, qua đó Mẹ tuyên dương Chúa đã làm nhiều việc qua Con Một Ngài là Đức Giêsu, tức đã hoàn thành ý định của Cha Ngài:

“Ra tay biểu dương sức mạnh làm tan tác bè lũ kiêu căng lòng trí
hạ bệ những kẻ quyền thế khỏi ngôi báu
nâng cao mọi kẻ khiêm hạ
cho kẻ đói nghèo được no phỉ sự lành
xua đuổi về không những kẻ giàu có.

            Thế đó, không là tư duy về lòng đạo rất sốt sắng mà là thực chất bộc phá nền chính trị. Tựa hồ các vấn đề thời đại ngày nay ta vẫn có, như:

            -Tính ngạo mạn, kiêu căng
-bè lũ thống trị vô liêm sỉ, thiếu công bằng
-áp bức người khiêm hạ ở dưới thấp và những kẻ đói khát
-đám nhà giàu mải mê bòn mót tiền bạc và của cải của người khác.

Đó là chủ đề Tin Mừng thánh Luca có lời cung chúc rất “Xin Vâng”. Có cả chương đoạn kể về thời thơ ấu của hai Đấng. Tin Mừng đó, không là văn phong của trẻ nhỏ. Nhưng, là chính trị của người lớn. Chính vì thế, có lẽ ta cũng nên cân nhắc những điều được nói để đem ra khỏi lễ hội Giáng Sinh, đình đám. Bởi, không thể đặt Đức Kitô vào với Giáng sinh cho đến khi nào ta đưa nền chính trị của người lớn rất Kitô vào với cảnh trí thế giới của riêng mình. 

Mỗi thánh lễ ta tham dự đều mang ý nghĩa như một tuyên xưng quyết nói lên, rằng: kẻ nắm giữ mọi quyền bính phải nhận ra rằng của cải/bạc tiền trên thế giới thuộc về dân nước sống trong đó. Họ có bổn phận phân phát cho người dân, thật đều. Và, ưu tiên cho những người còn nghèo còn đói, bị bỏ rơi ngoài phố chợ. Đó, mới là thứ chính trị mang lợi ích đến những người có nhu cầu cấp bách, rất trông mong.     
   
Tuần qua, ta suy niệm về cộng đoàn khác thường được nói ở dụ ngôn, vượt quá gia đình cũng như nhóm hội Chúa thiết lập. Truyện kể về ngày sinh của thánh Gioan Tiền Hô hôm nay, là bản dạo đầu cho “gia đình” khác thường ấy. Truyện kể về thánh Gioan, cũng nói trước về nền chính trị mang tính dụ ngôn của cộng đoàn khác thường. Và, đó là cung cách viết Tin Mừng của thánh Mác-cô. Thế nên, sống theo đường lối của thánh Mác-cô cũng cần để có được một nền chính trị đích thực theo kiểu thánh Luca mà tạo ảnh hưởng lên thế giới, rất gian trần.

Trong cảm nghiệm này, cũng nên ngâm lại lời thơ vừa trích, mà ca lên:
           
“Anh chắp tay van, dáng tượng sầu,
            Người em mây tỏa, gót chân đau.
            Xin cho da thịt là sương khói,
            Quyền phép đôi ta vẫn nhiệm mầu.”
            (Đinh Hùng – Trái Tim Hồng Ngọc)

Quyền phép hôm nay, thánh nhân đã hoá giải. Để, người người nhờ đó sẽ ca vang bài “Xin Vâng” như Đức Maria từng cất tiếng. Mẹ cất tiếng ca vang để người người lại sẽ có được “trái tim hồng ngọc”, lời hứa Chúa phú ban gửi đến mọi người, suốt mọi thời.    

            Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn -             
             Mai Tá lược dịch

Thursday, 14 June 2018

“Hôm nay có phải mùa Thu,


Suy Tư Chúa nhật thứ 11 thường niên năm B 17/6/2018
(Mc 4: 26-34)
Một hôm, Đức Giêsu nói với dân chúng: "Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa."

Rồi Người lại nói: "Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng."

Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết.

“Hôm nay có phải mùa Thu,
Mấy năm xưa đã phiêu du trở về.”
(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Nơi nhà thơ hôm nay, chính là mùa Thu. Mùa, của những phiêu du trở về, từ mấy năm xưa. Với nhà Đạo, nay mùa thường niên phụng vụ. Mùa, của những suy tư, nguyện cầu có Lời Chúa dẫn dắt. 

Suy tư nguyện cầu, với trình thuật thánh Mác-cô ghi, có dụ ngôn Chúa kể để người người đi dần vào chốn tâm tư đầm ấm, vẫn lắng đọng. Nguyện cầu suy tư, về người gieo giống nơi đất ruộng ở tình huống tinh mơ mù tối như các nhà chú giải thấy có khoảng cách còn bỏ ngỏ ở dụ ngôn. 

Về trình thuật, các nhà chú giải đều suy nghĩ theo cách khác biệt. Crossan gọi dụ ngôn đây là “tình huống không phù hợp, thiếu dứt khoát”. Trong khi đó, bình luận gia Dermode lại thấy câu cuối của trình thuật “chẳng có gì rõ rệt”. Stephen Moore lấy làm thích thú cũng hơi lạ về câu “có hạt rơi xuống vực thẳm không sinh lợi”. Nói chung thì, dụ ngôn thánh Mác-cô ghi, chỉ nói cách gián tiếp, không rõ rệt về lập trường của Chúa. Dụ ngôn hôm nay, không đưa ra điều gì độc đáo, rõ rệt, mà chỉ đảo ngược suy tư, tưởng đoán của người nghe, thôi. 

 Dụ ngôn đây, là truyện kể không khúc chiết cũng không mạch lạc, có khi còn tinh ranh nghịch ngợm, tức: không hứa hẹn điều gì và cũng chẳng chuyển tải lập trường nào vững vàng chắc nịch hết. Dụ ngôn, chỉ độc đáo ở văn phong thể loại qua đó thánh Mác-cô muốn chứng tỏ, rằng: Chúa đã trỗi dậy từ chốn mông lung, mù tối. Ngài đã biến đổi tình trạng tăm tối của người đời để mặc khải một sự thật, là: các suy tư của ta đều giới hạn.

Có điều lạ, là: khi Chúa bị cáo giác là đầu óc Ngài không lành sạch và chừng như Ngài cũng bị quỷ ám, thì Ngài đáp trả bằng truyện kể dụ ngôn. Cũng thế, khi ta giáp mặt với cách biệt mở ngỏ ở dụ ngôn, và giả như ta có khả năng giải quyết mọi cách biệt như thế trong cuộc sống không ý nghĩa, thì ta đâu phải là người không lành sạch. Và, khi ta vượt qua cảnh đời nô lệ rất không minh bạch để đến với rõ ràng, đúng đắn, thì ta không còn bị quỷ tha ma bắt, nhưng lại có quyền uy tuyệt đối bằng những lời tuyên bố trọn hảo. Và từ đó, ta có thể thư giãn ngồi cười và kể những câu truyện mỉa mai, châm biếm mà Tom Wright vẫn bảo mọi người đi Đạo chúng ta đều mắc phải hội chứng thiếu tính châm biếm, mỉa mai, khôi hài. 

Người tỉnh táo hơn, sẽ đọc ra được dấu vết tư tưởng của ngôn sứ Isaya ở dụ ngôn truyện kể do thánh Máccô ghi. Sách Ysaya đoạn 55, câu 10-11 viết: lời của Chúa giống như làn nước ban hạt giống cho người gieo và như bánh trái cho người được ăn. Nhưng, các đoạn này không ‘điều giải’ được sắc thái khác thường/dị biệt ở dụ ngôn. Ngoài ra, các cụm-từ chính dù không rút từ Kinh Sách của người Do thái, nhưng lại đầy đủ ý nghĩa tóm gọn trong câu chính “Người Con Dấu Yêu” gieo vãi/nảy nở ở nhiều chỗ trong Tin Mừng thánh nhân ghi. Chừng như thánh Máccô muốn người đọc quay về với cảnh trí có thanh tẩy để bắt đầu truyện kể về Tin vui ngài công bố. 

Thần Khí đến với Chúa khiến Ngài trở nên Con Một của Chúa Cha. Và, động thái này gây ảnh hưởng lên tính “Người” của Ngài, khiến tính chất ấy yếu dần đi để Ngài trở thành “con người” đích thực để rồi biến đổi tính mỏng dòn của con người thành động thái mở ra với Chúa. Người đọc dụ ngôn, có thể diễn rộng tư tưởng ấy theo cung cách giảng giải tiêu biểu của Chúa. Chính vì thế, Chúa đã nói lên những điều chưa hoàn tất để thêm vào. Và, đó là nét đặc thù của dụ ngôn, hôm nay.

Chính trong phần kể truyện thánh Mác-cô sử dụng, các dụ ngôn được tháp nhập vào trong đó. Chừng như đó chính là đặc trưng của chính dụ ngôn. Nên, khi thánh Máccô viết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa là ngài viết qua tư cách làm con của loài người không tự bảo vệ chính mình trước uy lực dẫn Ngài đi đến hệ quả là, nỗi chết. Có thể tất cả sự việc được nghiên cứu và suy nghĩ thật cặn kẽ để biến thành dụ ngôn, rất ý nghĩa. 

Quanh dụ ngôn người gieo giống ở Tin Mừng Mác-cô đoạn 4 câu 14-20, có hai đoạn văn qua đó tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, đặc biệt ở đoạn 4 câu 10-13 và câu 20-25, tác giả tập trung nhấn mạnh đến sự kiện mù tối/hiểm hóc, cung cách sử dụng ngôn ngữ của dụ ngôn. Hiểm hóc/mù tối ban ra để chỉ một ít người được chọn là người có tai để nghe, chứ không được mặc khải, cả với mình. 

Khi nói về hạt giống tăng trưởng, thánh Mác-cô nhấn mạnh chữ “hạt giống lớn lên”, ngài muốn nói: ngay cả những người gieo giống cũng không biết hạt ấy tăng trưởng cách nào. Cũng vậy, có nhiều điều người nghe vào thời ấy không thể hiểu, tựa như sự chết và sự sống mới. Điều đó, khởi sự từ chức năng “Con Thiên Chúa” tiếp theo sau là phần tự sự nói theo nghĩa chữ, tức sự thành tựu đem con người đến nơi nào chẳng ai biết được. 

Và, ở dụ ngôn, điều này thách thức con người đạt đến thành tựu bằng chính ngôn ngữ của mình. Theo chân Chúa, người người đi vào chốn mù tối vượt quá mọi dẫn giải. Chính vì thế, con người nên sẵn sàng với tình huống ấy, tức: cuối cùng ra, dụ ngôn chỉ là ngôi mộ, luôn trống vắng.

Có điều khiến ta thấy rõ, là: thánh Máccô đưa mọi người vào với thứ gì đó hơn cả dụ ngôn. Dù, thánh nhân dạy ta suy tư theo cung cách của dụ ngôn. Tựa hồ phụng vụ Hội thánh cũng dẫn ta về với suy tư giống như thế, về cộng đoàn do Chúa thiết lập. Suy tư, là bởi: ở đây nữa, luôn có sự mù mịt tối nghĩa. Bởi, tất cả đều tiến triển theo cung cách của dụ ngôn, thôi.

Con dân Đạo Chúa là tập thể khá bất thường. Có người gọi họ là gia đình không dựa trên quan hệ họ hàng. Người khác lại bảo: họ là nhóm người đã được biến đổi bên trong Do thái dựa trên ý tưởng về “đầy tớ Chúa” như ngôn sứ Ysaya từng nói. Ý tưởng này, không đối chọi với ý niệm về “người ngoại cuộc” sống ngoài nhóm hội của các thánh. Với Ysaya, đây chỉ là chuyện nhỏ về người đầy tớ tái tạo bộ tộc của Do thái mà không cần trở thành ánh sáng muôn dân nước. Chúc lành của Thiên Chúa là sự lành thánh ban cho dân Do thái, nhưng điều đó cũng có nghĩa là: ơn lành được ban cho toàn thế giới qua dân Do thái. Cũng đúng cả hai và ngược lại. Đó chính là sự mù tối, thiếu nghĩa. Đó, cũng là dụ ngôn, cũng rất thật.

Có người hỏi: vậy thì, với Đức Giêsu, gia đình là gì? Khi sống đời trưởng thành, Chúa có gia đình không? Phải chăng ta muốn đây là việc thăng tiến các gia đình; và bằng vào việc này, ta lại thăng tiến cả lịch sử đứng sau con người? Phải chăng đó cũng là cách Chúa muốn ta gắn bó với nhau nhưng không dứt khoát, cũng chẳng rõ ràng? Cung cách ấy, có thể thực hiện được không? Có tốt đẹp lắm không? Vẫn nên tư duy một lần nữa về sự khác biệt giữa ta và người sống chung quanh mình? 

Thật ra, suy tư về sự khác biệt giữa những người sống với nhau và cạnh nhau, có nghĩa là ta phải sống đích thực mà thi hành ý định của Đấng Khác với mình. Đấng ấy đang hiện diện ở chốn thiên cung? Cũng thế, có nên suy tư về tính cách “chính trị” của động thái ủng hộ hoặc chống đối không? Có nên phân tách kỹ ý nghĩa của tả phái với hữu khuynh không? Phải chăng các tương phản như thế vẫn được thăng hoa theo cung cách rất rộng? Phải chăng có yếu tố nào lúc đầu khá rõ rệt để ta có thể định nghĩa được chính mình nếu ý định rất đoan quyết của Đấng Khác với ta, đang ở chốn thiên cung, vẫn chỉ là một và chỉ có tính quyết định, không? Nếu thế thì, đó là tính chất rất dụ ngôn!

Cuối cùng thì, quan điểm chính ở đây, là: sự khác biệt giữa tính hiệp thông và cộng đồng. Hội thánh Chúa đáng ra phải mang ý nghĩa của thể thức khá lạ kỳ về cộng đồng xã hội luôn tuôn chảy từ thể thức kỳ lạ của hiệp thông tâm linh, huyền nhiệm. Bởi, hầu hết các vết thương lòng ở thánh hội, đều đến từ sự diễn giải quá đáng về chiều kích bí nhiệm hoặc mang tính rất xã hội, thôi. 

Cuối cùng thì, công cuộc dựng xây thánh hội sẽ mang ý nghĩa chữa lành vết thương ấy. Giả như Đức Chúa sử dụng dụ ngôn xây dựng hội thánh tựa như khi Ngài đặt tên cho ông Simôn thánh Phêrô rất đá tảng ở Tin Mừng thánh Mátthêu, thì Hội thánh sẽ luôn có đó để được xây dựng thêm một lần nữa. Và, cũng được chữa lành thêm một lần nữa. Và khi ấy, Chúa lại sẽ khuyên nhủ thánh Simôn Phêrô hãy cứ tiếp tục mà dựng xây/chữa lành cho hội thánh của Ngài, mãi như thế.

Cuối cùng ra, tất cả dụ ngôn về người gieo giống là dụ ngôn về một dựng xây cộng đồng thánh hội cũng rất mới, trên đá tảng mang nhiều chấm hỏi, cả dấu chấm.

Trong cảm nghiệm ý nghĩa của dựng xây, cũng nên ngâm tiếp lời thơ còn bỏ đó vẫn chưa xong:

           “Hôm nay có phải là Thu?
           Mấy năm xưa đã phiêu du trở về.
           Cảm vì em bước chân đi,
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.”
           (Đinh Hùng – Bài Hát Mùa Thu)

Chắc chắn, bài hát của nhà thơ sẽ không như ca lời của dụ ngôn Chúa dạy. Bởi, mùa Thu có phiêu du vẫn là mùa của những dẫn dụ ta nên về với Chúa mà dựng xây thánh hội vẫn cứ “lưu ly phớt buồn”.          
           Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn
           Mai Tá lược dịch

Wednesday, 6 June 2018

Lm Giuse Mai Van Thi.nh: TRONG CHÚA, MỌI SỰ ĐỀU KHẢ THI!



Bài đọc một hôm nay kể lại một phần của sự tích sa ngã trong sách Sáng Thế. Như chúng ta đã được dậy bảo các sự kiện này mang tính thần học, chứa đựng và truyền đạt một sứ điệp hơn là những dữ kiện lịch sử. Qua đó, chúng ta nhận thấy sự tội đã hiện diện trước khi con người bất tuân. Con người không tạo ra tội, nhưng tiếp tục sự hiện hữu của nó bởi việc ưng thuận và để cho quyền lực của sự tội thống trị. Tội có nguồn gốc riêng, luôn luôn đối nghịch với uy quyền của Thiên Chúa, và con người là nạn nhân cho sự hoành hành đó.
Trong thân phận con người, bằng kinh nghiệm sống, chúng ta cũng cảm nghiệm được sự thống trị này: Con người khó khăn trong việc thiện và dễ dàng chiều theo sự xấu. Chúng ta thường sống theo ý muốn của mình hơn là ý định của Thiên Chúa. Và như vậy tương quan giữa Thiên Chúa và ta cũng bị đứt đoạn. Từ sự đứt đoạn đó, như Adam, chúng ta đi trốn: trốn Thiên Chúa, trốn nhau và trốn chính mình. Từ sự rạn nứt trong tương quan với Thiên Chúa, con người đi đến sự đổ vỡ khác. Chúng ta không dám nhìn nhận việc mình đã làm, lại đổ thừa cho người khác và gián tiếp đổ thừa cho Chúa.
Trước khi phạm tội thì người đàn ông đã nhìn người phụ nữ bằng câu nói thật âu yếm và thơ mộng như ‘nàng là xuơng bởi xuơng tôi, thịt bởi thịt tôi’. Nhưng sau khi sa ngã thì khác; tất cả sự âu yếm và thơ mộng không còn nữa, để nhường chỗ cho những oán trách và thở than, như ‘giả như không có người đàn bà đó thì đời con đâu đến nông nỗi này’. Từ tình nghĩa phu thê bị rạn nứt dần đến tình anh em cũng chẳng còn, giết nhau chỉ vì ghen tương như trường hợp của Ca-in và A-ben. Lối cư xử mất tình mất nghĩa cứ thế lan rộng ra, bao trùm xã hội và cả thế giới,
Như vậy, khi con người muốn chiếm đoạt lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa, khi muốn tự mình tiếm quyền Ngài để định đoạt điều thiện – điều ác, để tìm cứu cánh cho đời mình ngoài sự bao bọc của Thiên Chúa thì mình không còn là mình nữa. Chỉ có mình Chúa mới là Đấng khôn ngoan. Các hành vi kiêu ngạo, từ chối uy quyền và sức mạnh của Thiên Chúa chỉ làm cho con người khám phá ra cảnh trơ trụi, cô đơn, lẻ loi, đổ thừa trách nhiệm cho kẻ khác và cuối cùng tương quan giữa con người với Chúa và với nhau bị sứt mẻ.
Tuy nhiên, kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa không lệ thuộc vào những hành vi bất tuân của con người. Thiên Chúa là Tình Yêu và tình yêu đó được trải dài bằng chương trình cứu độ. Cho nên, tác giả của trình thuật không hề nói đến việc Thiên Chúa trực tiếp trừng phạt con người. Trái lại, Ngài còn đi bước trước để tìm kiếm và gỡ rối cho họ. “Nghe thấy tiếng Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Thiên Chúa. Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Ngươi ở đâu?” Và, trong phần cuối của bài đọc một hôm nay, tác giả đã hé lộ cho chúng ta thấy Chúa sẽ không bỏ cuộc. Uy quyền của Ngài sẽ thắng sự dữ và những kẻ thuộc về nó sẽ thần phục duới chân của Ngài. Đó là sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, tuy chất chứa nhiều phần riêng biệt nhưng tác giả đã làm nổi bật vai trò và sứ vụ của Đức Giê-su. Người là Đấng mà tác giả của bài đọc 1 đã tiên báo, thì nay đã xuất hiện. Nơi Người, quyền năng của sự dữ bị tiêu diệt, Nuớc Thiên Chúa đuợc thiết lập. Trong đó, mối dây liên kết chúng ta lại với nhau không dựa trên huyết thống, máu thịt; nhưng trên căn bản của niềm tin và lòng mến mà con người trao cho nhau để thành gia đình mới.
Quả là một điều đáng buồn là hàng ngũ lãnh đạo, nhất là thành phần có ăn có học trong dân chúng lại không nhận ra đuợc các điều đó. Họ đã vu cáo Chúa là tay sai của thần dữ. Thậm chí cũng có một vài người trong huyết tộc lại cho rằng Nguời là kẻ mất trí. Tuy Thánh sử không nói rõ tại sao họ lại có cái nhìn lệch lạc như thế. Nhưng dựa vào tinh thần của bài đọc 1 và kinh nghiệm tôn giáo của mỗi người, chúng ta cũng có thể cho rằng thói hành xử và lối nhìn sai lầm đó phát sinh từ tính kiêu ngạo, khư khư ôm lấy ‘cái tôi’ của bản thân, gán ghép cho người khác điều mà chính bản thân mình lo lắng và sợ hãi. Thái độ của họ phản ảnh đúng như Lời cảnh báo của Đức Giê-su phán hôm nay “Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được? Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền; nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững. Vậy Xa-tan mà chống Xa-tan, Xa-tan mà tự chia rẽ, thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số.”
Kính thưa quí cụ, ông bà và anh chị em,
Như vậy, với những quà tặng và giá trị đặc biệt như: sự sống, tâm hồn, lý trí và lẽ khôn ngoan để phân biệt điều thiện – điều ác, con người được mời gọi vào một hành trình tìm kiếm sự hiệp thông với Thiên Chúa, với nhau và với thiên nhiên. Trên con đường này, họ khám phá ân phúc và đau khổ, sức mạnh và mỏng dòn, thánh thiệng và tội lỗi, hài hòa và dị biệt. Và con người phải chọn lựa!
Chọn lựa thì liều lĩnh và bấp bênh. Chọn lựa nào cũng có những dằn vặt và gian truân, nhất là khi phải chọn sao để sống đúng với ơn gọi và thân phận của mình, nhưng không phải là thứ thân phận được ‘ngụy tạo’ bởi tham vọng hay ‘vẽ vời’ theo sức quyến dũ của Thần dữ. Chọn lựa thật nào, ngay cả chọn lựa theo kiểu Adam – Evà và của người con thứ trong dụ ngôn ‘tình phụ tử’, cũng là dấu chỉ của nỗ lực hướng đến sự vươn lớn và trưởng thành trong thân phận con người.
Thiên Chúa đã yêu thương và chờ đợi mỗi người trong thân phận mỏng dòn và các chọn lựa của chính bản thân. Ngài trung tín trong việc tìm kiếm trước khi mời con người sống đổi mới. Đó là khuôn mẫu mà Ngài muốn chúng ta thực hiện.
Đối diện với thực tại chúng ta đang sống, nơi mà sức mạnh của sự dữ tràn lan. Nó ảnh hưởng vào các hệ thống quyền lực trong xã hội, len lỏi vào lối sống chung cũng như cuộc sống riêng của từng người. Nó nhen nhúm và tạo trong ta một sức mạnh và lôi kéo ta nhìn nhận và đánh giá sai các dấu chỉ của ân huệ.
Tất cả những điều đó khiến chúng ta chùn bước và gặp nhiều khó khăn khi áp dụng khuôn mẫu mà Thiên Chúa mời gọi. Nhưng không vì thế, mà những lời mời gọi sống trọn vẹn những giá trị của thân phận con người mất đi tiếng âm vang. Trái lại, chúng ta lại ý thức hơn về nhiệm vụ của mình: Quên đi các mặc cảm phát sinh bởi các chọn lựa sai trái, đôi khi sự sai trái này bóp méo hình ảnh của Thiên Chúa nơi bản thân mình. Hãy tin tưởng vào sự thành tín của Thiên Chúa, và sống thật các giá trị mà Thiên Chúa trao ban khi tạo dựng nên con người. Có điều nào Thiên Chúa tạo dựng mà lại xấu đâu, như tác giả trong sách Sáng Thế đã khẳng định “Thiên Chúa thấy mọi sự Người làm ra quả là rất tốt đẹp!” (1:31a)
Thưa anh chị em,
Trong thân phận làm người, chúng ta gắn liền với những mâu thuẫn và các đổ vỡ. Tuy nhiên, mọi mâu thuẫn và đổ vỡ chỉ có thể được giải quyết khi con người học biết không chỉ chấp nhận mà còn trân trọng các sự khác biệt của nhau. Thái độ sống này giúp chúng ta nhận ra sự phong phú và tốt lành của Thiên Chúa vẫn tiềm tàng hoạt động không ngừng nơi cuộc sống riêng biệt, đầy mầu sắc của mỗi cá nhân và cộng đoàn.
Và với lượng ân sủng vô cùng phong phú của Thiên Chúa ấy, chúng ta có khả năng trao cho nhau tình yêu thương và lối sống hài hòa với thiên nhiên, với đồng loại và trên hết với Thiên Chúa. Được tạo dựng như hình ảnh của Thiên Chúa, bổn phận của con người là nên giống Ngài và trở thành nguồn năng lực cho nhau, cho thế gian còn nhiều gian khổ và cho chính vũ trụ mà Thiên Chúa đã tin tưởng và trao cho chúng ta nhiệm vụ phải chinh phục và biến nó trở thành trời mới đất mới. Đó chính là lối sống ở vườn địa đàng. Đó là lối sống chúng ta đang tiến bước.
Như vậy, vườn địa đàng không phải là cảnh thần tiên ở quá khứ nhưng là mục tiêu chúng ta hướng tới. Vườn địa đàng đó đã được thể hiện một cách thật trọn vẹn nơi cuộc sống, sứ vụ và nhất là qua biến cố Phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô, nơi đó Người đã kéo mọi loài thụ tạo lên cùng Nguời. Cũng chính trong cảnh sắc của vườn địa đàng đó mà nền văn hoá đổ lỗi cho nhau trong bài đọc một đã bị đảo ngược bởi nền văn hoá mới mà Đức Giê-su đem lại, trong đó các thành viên của gia đình mới, gia đình Nuớc Thiên Chúa sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm, dấn thân, xung phong, nhập trận và chọn lựa Chúa là ưu tiên duy nhất cho cuộc đời mình.
Chính vì thế, khi được biết Đức Ki-tô, đồng cam cộng khổ, chia vui sẻ buồn để rồi nên một với Người là mối lợi và ân phút tuyệt vời mà tất cả chúng ta đều nhắm tới.  Giây phút thần tiên là khi được cùng với Người san sẻ một cảm xúc, hoàn thành một huớng đi, không cho riêng mình, nhưng cho thế gian là đối tuợng Tình yêu mà Thiên Chúa muốn trao ban. Chỉ có như thế thì quyền lực của sự dữ mới bị tiêu diệt dần dần để nhường chỗ cho sự hiển trị của Nuớc Thiên Chúa. Amen!