Wednesday, 15 August 2018

“Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 20 thường niên năm B 19/8/2018

(Ga 6: 51-58) Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."

Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?" Đức Giêsu nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời." 

“Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt,”
“Đường thơ bay sáng láng như sao sa...”
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Nhà thơ há miệng, nguồn thơ trào. Nhà đạo mở miệng, đón chào Mình Chúa lúc hiệp thông. Trình thuật thánh Gioan, nay tiếp tục bàn về Tiệc Thánh trập trung vào việc nối kết hiệp thông với thánh Hội.  Toàn bộ Tiệc, nay đưa dẫn người dự đi vào giây phút thánh thiêng, trầm lắng. Đa phần người đến dự đều hân hoan dự Tiệc để hiệp thông. 

Trước khi đi vào giây phút trầm lắng, phụng vụ Hội thánh cất lời xưng tụng “ngợi ca cao cả”, cuối lời nguyện. “Lời nguyện Thánh Thể”, chủ trương chúc tụng ngợi ca thật cao cả, tóm lược toàn bộ tinh thần nguyện cầu để vinh danh và cảm tạ Thiên-Chúa-là-Cha qua Thần Khí, nhân danh Chúa. Đây là việc cao cả để Hội thánh nói lên tâm tình cảm tạ Thiên Chúa. Quả là, hiệp thông rước Chúa nói lên hành xử hàm ngụ lời “ngợi ca rất cao cả” này.

Tuy nhiên, người dự Tiệc có thể chưa cảm kích đủ về Lời Ngợi Ca này. Cũng có lẽ, những người như thế chưa trải nghiệm đủ toàn văn của Lời Nguyện, cũng không chừng. Thật ra thì, phần lớn là do truyền thống Giáo hội ở phương Tây quá đặt nặng vào việc giáo dục dân con rằng Lời Nguyện Thánh Thể mang ý nghĩa của động thái hiến tế. Có vị lại nghĩ: Đức Giêsu chỉ thực sự hiện diện khi chủ tế đọc lời truyền phép, thôi. Và, khi chủ tế truyền phép bánh rượu thành Mình Máu Chúa, Chúa có mặt ngay khi ấy. Và, Chúa chỉ đợi chờ giây phút này để đến với ta, vào trong ta, qua hiệp thông rước lễ rất thánh-hoá.

Truyền thống Giáo hội Đông phương lại quan niệm Lời Nguyện Thánh Thể có hơi khác. Dân con Hội thánh ở bên đó được dạy rằng: toàn bộ Lời Nguyện Thánh Thể là để Chúa hiện diện ở buổi Lễ cách hiện thực. Khác với phương Tây có thói quen gọi đó là “Lời Nguyện Hiến Tế”. Giáo hội phương Đông đánh giá Lời Nguyện Thánh Thể nhiều hơn người phương Tây được dạy. Thế nên, phần cuối Lời Nguyện, tức Lời Ngợi Ca Cao Cả, khiến người dự Tiệc thấy như đã xong phần lớn của kinh nguyện hiến tế, nên đã đáp lại bằng lời thưa “Amen” thật lớn tiếng. 

            Tìm hiểu ý nghĩa đích thực của phụng vụ hiệp thông, có lẽ cũng nên suy niệm thêm về ý nghĩa của sự hiệp thông đích thực hơn chỉ nói mỗi ý nghĩa việc rước Chúa vào lòng, thôi. Hiệp thông, theo nghĩa chữ là: “đến với” -ở đây là: đến với Chúa Ba Ngôi rất thánh, với Chúa Phục Sinh, với lời nguyện cảm tạ của Ngài, và với cộng đoàn tham dự cùng với lời tập trung lên tiếng diễn tả lòng cảm kích rất biết ơn. Hiệp thông, theo nghĩa thông thường, là thành phần cao cả của tập họp cảm thông, nhưng không là tất cả sự việc chỉ tập trung mỗi tế hiến. Hiệp thông, theo nghĩa cao cả vẫn tiếp diễn không dừng, còn nghi thức phụng vụ thì không thế. 

Nói cách khác, hiệp thông theo đúng nghĩa, là cùng đi với ta theo về nhà, cả khi ta ra ngoài mà lao động hoặc vui chơi lành mạnh. Tinh thần hiệp thông luôn theo ta từng bước và từng bước; vẫn ở với ta và cùng ta hiện diện khắp chốn để về với sống lại nữa.

Tiệc Thánh Thể, có nhiều nghi thức mang ý nghĩa “hiệp thông” như thế nữa. Thứ nhất, là: hiệp thông trong nguyện cầu, cùng hợp lòng một ý để dâng lên. Nhất thứ là khi ta trỗi dậy để đọc kinh “Lạy Cha” mà lời kinh được Chúa hướng dẫn ta hướng về Chúa Cha, đã thật sự mang ý nghĩa mới khi kinh này nói lên những điều cần nói và cần thưa, để rồi kết thúc bằng cụm từ “Amen” thật tuyệt vời. 

Lời kinh dâng lên Cha được Chúa hướng dẫn, vẫn ước nguyện để: Danh Cha được cả sáng (cụm từ “cả sáng” đây đượm ý nghĩa tuyên dương, cảm tạ; và, nguyện cầu cho: “Nước của Cha”, tức Đường Lối Chúa hằng đeo đuổi, được ngự đến rất sớm hiểu như sự kiện xảy ra trong hiện tại. Cầu cho Thánh ý của Cha -là Tình yêu thông hiệp toàn thể vũ trụ- được thể hiện ở nơi đây, tức trái đất này, cũng như thiên cung vũ trụ vạn vật, vẫn rất rộng. 

Lời cầu Chúa hướng dẫn, còn để người người có cơm bánh hằng ngày -không chỉ mỗi Bánh Thánh ở phụng vụ Tiệc mà thôi, nhưng còn là cơm/bánh mỗi ngày cần để sống. Cầu như thế, không chỉ đơn thuần dành cho cộng đoàn đang dự Tiệc thôi, nhưng ở mọi nơi, khắp chốn. Chí ít, là chốn miền có nhiều người đang cần đến, hầu tồn tại. Bằng vào lời cầu Ngài dẫn dắt con dân Ngài, Chúa muốn dân con Ngài được ơn tha thứ, những hai chiều. Từ hành xử tích cực cho đến tâm can thụ động, tức vừa thứ tha vừa đón nhận ơn tha thứ vào Tiệc Thánh ngày hôm ấy tại nguyện đường ở khắp nơi, hết mọi thời. Và, nguyện cầu gửi đến Chúa là Cha, còn là thành phần của tiến trình tha thứ, không dừng lại.   
          
Thứ đến, hiệp thông có tha thứ vẫn trải dài khắp mọi nơi còn mang ý nghĩa lan rộng vào cuộc sống rất thực tế. Điều này diễn tả qua sự kiện cộng đoàn dân Chúa chúc bình an hôn chào lẫn nhau. Được thế rồi, lại tiếp tục nhiệm tích hiệp thông suốt cuộc đời ở trần thế. Động thái chào chúc bình an cho nhau, là để mọi người tồn tại và phấn đấu trong cuộc sống đời thường, rất cần. Cần, sự bình an khởi từ Tiệc hiệp thông cũng rất lành và rất thánh.

Thứ ba, là sự kiện hiệp thông đan kết với nhau và vào nhau được diễn tả một cách tượng trưng ở buổi Tiệc rất Thánh Thể, là tiệc Bẻ Bánh đích thực. Nhưng, động thái này còn bẻ bánh cho vỡ vụn để hòa trộn vào với nhau qua việc chủ tế bẻ Bánh Thánh ra từng mảnh đem phân phát cho mọi người. Thêm nữa, sự việc này lại được chủ tế bẻ Bánh Thánh nhỏ bỏ chung vào với Rượu Thánh để rồi, cả Mình Máu Chúa sẽ chan hoà cho mọi người. Từ sự việc này, mọi người sẽ trở nên một, tức đã hiệp thông rất lành thánh.

Có chuyên gia phụng vụ lại đã viết: cả hai động thái truyền phép, một qua việc bánh thánh trở thành Thân Mình Chúa và rượu thánh trở thành Máu Châu Báu của Ngài, tức biểu trưng sự chết của Đức Chúa khi Mình Máu Ngài tách lìa làm hai. Và, tác giả hiểu việc kết hiệp bánh với rượu nay trở thành biểu trưng cho sự kiện Phục sinh quang vinh. Ý tưởng này tuy rõ nét, nhưng là giải thích cũng khá mới. Ngày nay, mọi người coi phụng vụ hiệp lễ theo nghĩa của sự hiệp thông với Chúa Phục sinh rất chính đáng.

Điểm thứ tư, là: hiệp thông trong vui ca, hát xướng. Toàn thể người dự Tiệc sẽ cùng nhau hát bài “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc trần gian” không như động thái “điền vào chỗ trống” khi vị chủ tế phân phát Mình Chúa cho thừa-tác-viên, nhưng như một hiệp thông vào một cung giọng của các thánh đang dự Tiệc. Ở kinh Tiền Tụng, phụng vụ cũng đã tuyên dương quyền uy của Chúa đã chấp nhận sự thuần phục của thụ tạo, để tất cả ca tụng Hội thánh Chúa ở trần gian cũng như các vị đang ở chốn thiên cung.

Thụ tạo của Chúa đều ngợi ca tôn vinh Thiên Chúa bằng việc tuân thủ luật vũ trụ. Và tất cả vẫn làm công việc này một cách vô thức. Chúng ta đây, là Hội thánh ở thế trần vẫn hiểu rõ việc mình làm là để tuyên dương ngợi ca Chúa Tể Càn Khôn mà toàn thể vũ trụ đang mắc nợ Ngài sự hiện hữu. Thế nên, bằng lời ngợi ca cao cả ở Tiệc Thánh, ta cũng hát lên cho vũ trụ thấy được lời ca tung hô chúc tụng, được làm trước. Đó là phần kết bản hợp ca đầy cảm tạ vẫn tinh khiết. Chừng như ta vẫn có khả năng lắng nghe lời Chúa Phục Sinh đang cảm tạ Cha Ngài thay cho ta, bằng bài hát Phục sinh quang vinh của Ngài. 
         
Bản chất rất hiệp thông của mọi thụ tạo trong trời đất, đều hàm ngụ trong lời ngợi ca cao cả đó. Bản chất ấy, nay đặc biệt nối kết với Thần Khí được Cha ban cho ta. Thần Khí Ngài đang hiển thị ở việc hiệp thông bền chặt. Và, Hội thánh làm thế với Thần Khí và qua Thần Khí; nên, hiệp thông nối kết, tự bản chất, mang tính kết hiệp thể hiện nơi dân con đang xếp hàng nhận đón Chúa; và sẽ xếp hàng về với cộng đoàn đang tụ tập trong thinh lặng, nguyện cầu rất sốt mến. 

Không phải Hội thánh yêu cầu Chúa đến với ta bằng việc Ngài hiện diện ở Tiệc Thánh. Nhưng, chính Ngài đòi hỏi dân con mọi người phải làm chứng nhân cho Ngài hầu tuân theo đòi hỏi của đời sống đạo đức, có hiệp thông ở Tiệc Thánh. Giải thích điều này, có tác giả trình bày sự việc theo dạng thơ văn kịch nghệ như sau:

“Có một thời, mọi người nhận được kịch bản sống động đặt nền tảng trên nhiệm tích thánh thiêng. Kịch bản này, buộc người nhận phải đưa nó ra ánh sáng, để mọi người được thấy. Nay, người người lại được tặng ban nhiều kịch bản hơn để khi nhận, sẽ phải chọn cho mình ít nhất một điều được ghi trong đó. Nếu không, phận mình chỉ được thủ mỗi vai trò phụ diễn tạm ngõ hầu sống nốt cuộc đời chẳng đầu đuôi, không mạch lạc. Với chúng ta, là những người đến hiệp thông trong Tiệc Thánh, tức những người vẫn tiếp tục tin vào nhiệm tích Vượt Qua trong thế giới đầy nghi kỵ. Ta được kéo vào nhiệm tích ấy đến mức có thể vượt trên mọi dự trù hoặc cảm thông mỗi khi đón nhận hiệp thông rước Mình Chúa.”  

Cảm nghiệm về hiệp thông là như nhà thơ trên dám thốt lên lời thơ đầy ý nghĩa, để hát rằng:

            “Ta há miệng cho nguồn thơ trào vọt:
            Đường thơ bay sáng láng như sao sa…
            Trên lụa trắng, mười hai hàng chữ ngọc,
            Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa.”
(Hàn Mặc Tử - Nguồn Thơm)

Tinh hoa rồng phượng, nay hiệp thông sáng láng như sao sa, trào vọt. Thơ tuôn trào, để người người sẽ cùng Chúa kết hiệp với Chúa Cha trong tình thương yêu ngào ngạt, buổi Tiệc Thánh.           
            Lm Kevin OShea DCCT biên soạn - Mai Tá lược dịch.

Tuesday, 7 August 2018

“Trí đang no và khí Xuân đương khoẻ,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 19 thường niên năm B 12/8/2018

(Ga 6: 41-51)
Khi ấy, người Do-thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giêsu đã nói: "Tôi là bánh từ trời xuống." Họ nói: "Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống?" Đức Giêsu bảo họ: "Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."

 “Trí đang no và khí Xuân đương khoẻ,”
“Nhạc đương say và rượu hãy còn thơm.”
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Chỉ đôi giòng, nhà thơ nay nói lời của Khí Xuân, đương no khoẻ. Bằng vào bẻ Bánh ở Tiệc Thánh, nhà Đạo mình diễn tả Tình Chúa với muôn người, như trình thuật đà ghi chép. 

Phụng vụ Tiệc Thánh, nay gồm việc bẻ Bánh Lời Chúa và bẻ Bánh rất Thánh Thể. Hai sự việc tuy khác biệt, nhưng cùng một thực tại mà Đức Chúa ủy thác cho dân con mọi người, nhớ mà thực hiện. Dân con thực hiện tập họp để nhớ đến Chúa hiện diện cách đậm sâu mật thiết nơi bàn Tiệc Thân Mình Ngài, nữa. Toàn bộ sự sống Chúa sẻ san trong Tiệc Thánh qua việc Ngài cho đi chính Mình Ngài để Vượt Qua mọi tình huống rất bức bách mà về với Cha. 

Dân con Chúa, được yêu cầu tham gia dự Tiệc, là để dấn thân hơn vào sự sống và công cuộc cứu rỗi của Chúa. Thế nên, phụng vụ Tiệc trở thành trọng tâm, nguồn cội và đỉnh cao bằng vào động thái hăng hái tham dự Tiệc. Chính ở đây, dân con Chúa hiệp thông hữu hiệu vào cuộc Vượt Qua Ngài thực hiện. Tham gia dự Tiệc, không chỉ lo mỗi đọc kinh, hát xướng hoặc “bỏ tiền” vào thùng/giỏ. Nhưng, là để ta trở thành một phần của Tiệc Cứu Rỗi to tát hơn.

Phụng vụ Tiệc gồm 4 công đoạn rút từ Lời Chúa đã phán buổi Tiệc Ly hôm trước. Công đoạn đầu, “Ngài cầm bánh lên” và sửa soạn biến bánh thành Quà tặng. Ngài “cảm tạ” bằng Lời nguyện Thánh Thể. Tiếp đó, Ngài “phát quà” – tức phân bẻ Bánh thành nhiều mảnh và cuối cùng “trao cho các tông đồ” – một động thái của sự hiệp thông rất rộng. Từ đó, cùng Chúa ta thực hiện động tác quan yếu trong cuộc đời gồm các việc: Cầm lấy, Cảm tạ, Bẻ ra và Trao tặng.  
       
Chuẩn bị “Quà” vào Tiệc Thánh là phần “Dâng tiến”, theo nguyên ngữ, mang ý nghĩa rất hiến tặng. “Hiến tặng” đích thực ở buổi Tiệc không là động tác bưng bánh rượu cho linh mục chủ tế, như vẫn thấy ở Tiệc/Lễ. Nhưng, chính đó là việc Chúa “hiến tặng” trọn Sự Sống cùng Thân Mình Ngài cho Cha, và cho ta.    

Chuẩn bị Quà, không là cách nói đơn thuần dễ lầm với Nhiệm tích tận hiến cao cả, mà là tặng ban cho nhau cách thực tế qua sự thể đang diễn tiến qua việc sửa soạn bàn Tiệc kèm lời kinh. “Quà”, mà chủ tế nhận và nâng mang về phía trước, với mục đích mới mẻ có ý diễn tả: Quà đây không là vật dụng lấy từ thế giới phàm trần mà ta sở hữu, nhưng là từ khước quyền sở hữu chính đáng do thế giới mang đến cho ta. Khước từ, chính con người mình để “Cầm lấy” Quà mà “Cho đi” cùng “Cảm tạ” hết mọi người. Cảm tạ, ân huệ sinh động được sống rất hiện thực hầu biểu tỏ lòng cảm kích tặng vật nhận từ cuộc sống.

Điều lý thú, là: lời nguyện thưa dâng lên Chúa khi sửa soạn trao tặng Quà lại hướng về Vị “Chúa Tể Càn Khôn”, tức Đức Chúa của vạn vật đang hiện đến. Sắc thái đặc biệt của việc tặng trao không chỉ mỗi nhấn mạnh đến ơn cứu độ Ngài tạo dựng mọi vật mà là một sáng thế mới. Sáng thế thể hiện nơi việc sử dụng bàn thánh khi xưa người Do Thái dùng để nguyện cầu. Cũng nên nhớ, bánh rượu dùng để cử hành việc “tặng trao” còn thể hiện cả nơi người xếp hàng nhận của ăn/thức uống nuôi sống chính họ nữa.

Lời nguyện thưa, chủ tế dâng tiến Chúa chứa đựng cả một kế hoạch tái tạo vạn vật trong vũ trụ có Chúa Phục Sinh kéo toàn thể nhân loại vào với Ngài, trong cuốc sống, nỗi chết và sự sống lại. Nơi lời nguyện Thánh, buổi Vượt Qua nay đà hiện thực. Đây, là lời nguyện thưa đượm nét Tạ Ơn dâng lên Cha, và cũng là lời thưa nguyện đầy cảm tạ mà cộng đồng dân Chúa dâng lên Đức Chúa Phục Sinh và Cha Ngài. Nhiệm tích cao cả ở nơi Cha và Con Ngài lại là Một. Trở nên một.

Cũng là điều hay đẹp, để thấy được: trọn vẹn cuộc hiến tặng và trọn cuộc sống theo nghĩa Quà Tặng, từ Thiên-Chúa-là-Cha và từ Đức Chúa, rày ban cho ta. Ta cảm tạ, vì Quà Ngài ban thật quý hiếm. Nên, trong cuộc sống, ta cũng sẽ trao ban và tặng quà như thế, cho mọi người. Và, lời cảm tạ của ta đơn giản chỉ để phụ vào Quà Chúa Tặng, nay đã vẹn toàn và hoàn tất, như thể chẳng cần gì lời tạ ơn của ta.

Lời nguyện thưa đầy tính cảm tạ ở Tiệc Thánh, là sự thể rất quan yếu. Toàn bộ nhiệm tích Vượt Qua có tặng Quà Thân Mình Chúa cho đến chết và sống lại bao gồm toàn thể nhân loại - là Quà Tặng trọn vẹn- không thể không có lời nguyện thưa từ chúng ta. Nguyện thưa Lời Thánh Thể, không chỉ mô tả Quà Tặng thôi, nhưng còn thể hiện điều thưa gửi dâng lên Chúa. Và việc gửi thưa nay trở thành một hiện thực rất chính xác, bởi đó là Lời Tạ Ơn, rất Quà Tặng.

Lời nguyện Thánh có tạ ơn, chứa đựng ý nghĩa của ân huệ có sẵn nơi Quà Vuợt Qua là nền tảng cho nền thần học Bí tích của Hội thánh. Hội thánh Chúa cho thấy rằng các Bí tích (đặc biệt là Bí tích Thánh Thể) đều có hiệu lực không chỉ nói về ân huệ, nhưng còn là thành phần của chính ân huệ nữa. Đây, là hình thức rất tóm gọn về lời cảm kích chất chứa tính nội tại của Quà bao gồm một Tạ Ơn.

Lời nguyện thưa đây gồm hai vế xoay quanh ý nghĩa của lời Nguyện Thánh như phần diễn rộng hầu khẩn thiết mời Thần Khí Chúa đến chứng giám. Trước nhất, Lời nguyện thể hiện nơi động thái tặng và hiến Thân Mình Ngài. Sau đó, cộng đoàn dự Tiệc cùng dính dự vào việc tặng hiến toàn thân có lời cảm tạ của Đức Chúa. Chính đó, là sự thể đầy tính chất Thần Linh Thánh Ái, rất Chúa.

Đến dự Tiệc, ta quen dần với sự kiện Thân Mình Thánh Hiến của Chúa hiện diện nơi Nhà Tạm khi Tiệc Thánh bắt đầu và cũng quen dần với việc nhận đón Mình Chúa vào lòng như Hội thánh vẫn khuyên dạy. Sự việc, không giống như thời Giáo hội tiên khởi. Khi ấy, không thấy cộng đoàn nào tham dự Tiệc Thánh hoặc tổ chức nghi thức phụng vụ có lớp lang như hiện nay. Mình Thánh Chúa được dùng trong hiệp thông tặng hiến đã được thánh hoá nơi Lời nguyện Thánh, ở Tiệc/Lễ. Bánh thánh được “bẻ ra” để phân phối trong hiệp thông rất thánh. Cụm từ “bẻ Bánh” là ngữ vựng thuộc thời cổ đại về Thánh Thể.

Tin Mừng thánh Luca cũng đề cập ở đoạn 25 trong đó thánh sử kể về hai môn đệ rong ruổi đường về Emmaus đã nhận ra Đức Kitô Phục Sinh qua động thái Ngài “Bẻ Bánh”. Việc này tuy mang tính tượng trưng nhưng cũng nói lên cung cách cộng đoàn dân Chúa trở nên một, cùng với Đức Kitô Đấng tập họp mọi người thành một thực thể duy nhất, rất thánh thiện.

Nhiều người quan niệm rất đúng khi bảo rằng: nhất cử nhất động ở Tiệc Thánh chỉ dẫn công cuộc hiệp thông rất thánh thiêng tuy có dùng hình thức bánh/rượu làm biểu tượng. Chính sự hiệp thông thánh thiêng này, nói lên một cách sống động ý nghĩa của Tiệc Thánh cho chúng ta và mọi người trong tương lai mai ngày. Tiệc Thánh Thể, xem như thế, là Tiệc “tưởng nhớ Chúa” như Ngài đã căn dặn trước lúc Ngài về với Cha. Tiếng Hy Lạp được Giáo hội tiên khởi sử dụng nói lên việc “tưởng nhớ Chúa”, là cụm từ “Anamnesis” bao gồm tiếp-đầu-ngữ “ana” và cụm từ “Mnesis”. Tiếp-đầu-ngữ “Ana” được dùng để chỉ về động tác nâng cao, hướng về trước. Còn, “Mnesis” là để chỉ mức độ sâu sắc trong ý nghĩa của ngôn từ. Xem thế thì, “Anamnesis” không chỉ là động thái “ghi tạc để nhớ” mà chúng ta thường hay quên. 

Cụm từ “tưởng nhớ Chúa” chuyên chở và đưa về phía trước những gì ta nhớ đến, trong hiện tại cũng như tương lai. Cụm từ này không chỉ có nghĩa: mỗi người chúng ta đã đi vào sự sống có hiệp thông với Chúa, rất từ lâu. Nói đúng hơn, Tiệc Thánh Thể còn có nghĩa: chính Đức Chúa hiến tặng trọn Thân Mình Ngài cùng động thái rất tạ ơn, đã chuyển động đến với ta và ở trong ta. Và như thế, quyết chuyển đổi cuộc sống hiện tại và tương lai của ta nữa. Đó, là sự thể thánh thiêng, chính đáng, đầy ý nghĩa. 
      
            Trong cảm nghiệm hiệp thông với Chúa, cũng nên ngâm thêm lời thơ tha thiết, hát rằng:

                        “Trí đang no và Khí Xuân đương khoẻ,
                        Nhạc đương say và rượu vẫn còn thơm.
                        Nên muôn cánh thuỷ tiên chưa dám hó hé,
                        Trong phút giây trang trọng của linh hồn.”      
                        (Hàn Mặc Tử - Nguồn Thơm)

Nguồn thơm của rượu và nhạc/thơ vẫn khiến lòng người/lòng mình no đầy Khí Xuân, đương khoẻ. Để rồi, “trong phút giây trang trọng của linh hồn”, người người vẫn một lòng hiệp thông với Chúa, với mọi người, ở Tiệc Thánh. Suốt cuộc đời. 

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn
Mai Tá lược dịch.
______________________________________________________________________________

Friday, 3 August 2018

“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 18 thường niên năm B 05/8/2018
(Ga 6: 24-35)
 
Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?" Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận." Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?" Đức Giê-su trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến." Họ lại hỏi: "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: “Người đã cho họ ăn bánh bởi trời."

Đức Giê-su đáp:"Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian." Họ liền nói:"Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy." Đức Giê-su bảo họ:"Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”  
   
“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”
“Nên chạy đến bên Người, con kêu khấn.”
(dẫn từ thơ Hoài Châu)

Phải chăng nhà thơ nay chạy đến bên Người là vì tâm can rên siết, những héo mòn? Phải chăng nhà Đạo cũng làm thế, khi tim mình chẳng còn thấy gì hứng thú? Héo mòn và hứng thú, là hai phạm trù được diễn tả ở trình thuật thánh Gioan ghi, hôm nay.

Trình thuật thánh Gioan nay ghi, là ghi về một sự thể có tình tiết giống ở đời. Tình tiết, về Bánh Hằng Sống rất yêu thương, không chỉ có ở Tiệc Thánh, mà thôi. Nhưng, Bánh Hằng Sống còn là Lời Ngài trải rộng trong từng giai đoạn tiến triển ở Tiệc Thánh. Và, Tiệc Ngài dọn còn dành nguyên nửa buổi để giúp người dự vui hưởng tâm tình Ngài tỏ bày, qua bài đọc.

Bài đọc 1, trích từ Cựu Ước thường ăn khớp với Phúc Âm. Ở ngay giữa là bài đọc 2, gồm các thư của thánh tông đồ theo chân Chúa từ độ ấy, đa phần là thư thánh Phaolô được Hội thánh dùng làm cầu nối giữa Cựu và Tân ước. Thế nên, Tiệc Thánh vẫn là dịp thuận để người dự sống áp dụng Lời Ngài, trong cuộc đời.

Đôi lúc người dự Tiệc thấy cũng khó mà hiểu trọn các đoạn Kinh Sách được trích theo kiểu bốc thăm vốn vượt ra ngoài bối cảnh của Tin Mừng. Nên, đôi lúc người nghe cũng thấy khó mà áp dụng vào cuộc sống bình thường của người đi Đạo. Nhưng, nếu người đọc và người nghe chú tâm vào chủ đề từng biến đổi từ cảnh bạo lực trong cuộc sống thành động thái biết chọn sống hiền lành/tử tế, sẽ khác hẳn.

Đồng thời, trích dẫn bài đọc từ sách Cựu Ước theo kiểu bốc thăm/may rủi, có thể làm người nghe thấy cũng giống báo đài thuật toàn chuyện bạo lực, như: khuynh loát, sách nhiễu, hành hạ nô lệ, lưu đày, thánh chiến, nói chung về nền văn hoá Do thái trước sau lưu đày. Với người Do thái, toàn bộ nền văn hoá này gồm tóm trong Torah, vẫn tồn tại trong thế giới còn hoang sơ mà họ là thành phần thiểu số. Ở đó, còn nói đến Giao ước Chúa thiết lập với con ngưòi. Đến Lời Ngài hứa ban cho dân con một tương lai ngời sáng có “đất lành chim đậu”, có vương quốc Nước Trời hiền hoà do vua cha và ngôn sứ dành để.

Bài đọc 3, là trình thuật rút từ Giao Ước Mới của Chúa, đôi khi cũng pha dặm đôi nét bạo lực, như: cảnh Chúa cam chịu đóng đinh, đền thờ Giêrusalem bị phá hủy, hoặc đế quốc La Mã hà hiếp văn hoá của người Do thái ở thế kỷ cuối trước Công nguyên. Nói tóm, Giao Ước Mới cũng thấy cảnh khổ đau, sầu buồn, tàn bạo. Nhưng, thực chất của Giao Ước Mới chỉ đưa ra cách sống mới không bạo tàn, cưỡng bức.

Bằng vào cung cách mới này, Đức Giêsu và những người theo chân Ngài cũng từng trải sự sống không chỉ lúc nào cũng tích cực, nhưng có lúc cũng trầm buồn, rất nản lòng. Và, Ngài cũng thấy ở đó một dịp thuận tiện để ta suy tư về chủ thuyết duy-kỷ vốn lợi dụng người khác để làm lợi cho chính mình, tôn thờ mình. Trái lại, Ngài còn chấp nhận đường sống rất thấp để biến Ngài thành chốn hư không, trống rỗng, không màng quyền lực vẫn chờ chực mình ở quanh đó. Và, Ngài chấp nhận chịu đóng đinh trên thập tự là vì thế. Chấp nhận, cả cái chết rất bạo tàn qua kinh nghiệm về nỗi “chết dần chết mòn” để rồi tìm ra điều tích cực hiện tỏ sự trỗi dậy từ mồ trống.

Suốt cuộc đời, Ngài chỉ nói bằng Lời thương yêu vô điều kiện. Thứ tình thương chỉ hiện rõ nơi cuộc sống trải nghiệm về nỗi chết bạo tàn hầu chọn lựa Sự Sống tích cực mà con người vẫn giáp mặt, nhưng khó thấy. Chúa từng sống trải nghiệm vẫn giáp mặt nỗi niềm chết chóc rất tiêu cực, có thế mới ban cho ta khả năng và nghị lực cùng ý chỉ để được sống như Ngài. Và Ngài chuyển đến cho ta sức sống nội tâm là Thần Khí đến ở trong ta, để ta cùng Ngài mà sống. Sống, có thời khắc của Xuân mùa bất tận, trong đó mọi người sẽ không còn sống theo cung cách bạo lực, nữa.

Đôi lúc việc chọn bài đọc không cho người nghe biết rõ tất cả ý nghĩa của chọn lựa. Nhưng nếu người dự Tiệc Thánh vẫn thường xuyên đến với cộng đoàn để cùng dự, sẽ dễ nhận ra điều này. Và, người dự sẽ còn khám phá thêm nhiều ý nghĩa hơn. Khám phá ra Chúa đang nói Lời yêu thương với ta. Và, Ngài vẫn chờ đợi nơi ta một đáp trả, tích cực. Đáp trả, không bằng câu trích từ sách cổ, nhiều điển tích. Nhưng, bằng áp dụng Lời sống động vào cuộc sống của ta, và mọi người. 

Bởi thế nên, đọc Lời Chúa ở Tiệc Thánh không chỉ đơn giản đọc và hiểu mỗi nghĩa chữ của bài đọc; nhưng nên coi đó như Lời đối thoại Chúa chuyển đến với ta, để ta đàm đạo với Người. Đối thoại, là để đáp trả từ niềm tin sau khi nghe Lời Ngài dạy dỗ. Đối thoại trong im lặng, cũng là động thái đáp trả mà Chúa vẫn chờ từ nơi ta. Đáp trả, bằng niềm tin-yêu ta vẫn có đối với Chúa, với mọi người.  
            
Tiếng Do thái cổ xưa, được sử dụng trong Cựu ước, thường diễn tả sự đáp trả ấy bằng cụm từ “Dabar” tức “lời được thốt” bao gồm cả một ý tưởng về một sự kiện vừa khởi đầu. Ở Tiệc Thánh, nhất là phần Tiệc Lời Chúa, là sự khởi đầu của đáp trả. Theo sau đó, có lời diễn giải của linh mục hoặc phó tế muốn biến đáp trả ấy bằng hiện thực, ngay tại chỗ. Diễn và giải, không là giáo án hoặc bài giảng thuyết. Nhưng lại là nói lên quan điểm lập trường bảo rằng Lời của Chúa trong đó bao gồm rất nhiều đường lối sống Chúa đưa ra, và có nghĩa là Ngài còn chờ sự đáp trả, không phải bằng nghi thức tế tự ở buổi Tiệc, mà bằng cuộc sống thực được áp dụng vào những tuần sau đó.  

Diễn giải hoặc san sẻ Lời của Chúa, dù gọi đó là giảng thuyết hay giảng đạo đi nữa, vẫn là để cho người dự Tiệc nghe biết về đường lối sống giống như Chúa. Giống, như một đáp trả rất thân thiện, lành mạnh. Diễn giải Lời Ngài, còn để khích lệ người dự Tiệc học được cung cách biến đổi tính bạo tàn trong cuộc sống thành tính chất hiền từ/tử tế, vào mọi lúc. Hiền từ/tử tể với chính mình, người khác và với Chúa. 

Chu kỳ phụng vụ suốt 3 năm, Hội thánh trích dẫn rất nhiều bài đọc. Và, kèm theo đó, có rất nhiều bài giảng thuyết khiến người nghe những là ngủ vùi, hoặc lịm chết. Nhưng, tựu trung, Chúa vẫn tỏ ra kiên nhẫn với người diễn và giảng Lời. Thậm chí, Ngài còn mong cho mọi người cả người diễn giảng lẫn người nghe giảng giải có thể biến đổi trở nên hiền từ/tử tế, rất hết mình. Ngài không vội vã ước muốn lời diễn giảng mau chóng mang lại kết quả rất nhãn tiền. Bởi, càng vội vã bao nhiêu thì việc đổi và biến cũng không bảo đảm được chất lượng thực sự của biến đổi.

Thời nay, người người nói quá nhiều về cụm từ “đọc sách thánh”, hiểu theo nghĩa chỉ những đọc và nghe mà không theo đường lối tích cực. Tức, chỉ ngồi đó nghe tai này lọt tai khác như nghe hát nhạc kịch. Nghe rồi là xong, chẳng đánh động cũng chẳng đưa người nghe đi vào một quyết tâm. Nói cách khác, chẳng có gì bảo đảm là Lời Chúa đi sâu vào tâm khảm của người nghe lẫn người đọc để rồi khích lệ họ áp dụng vào đời sống có đáp trả. 

“Đọc sách thánh” ở Tiệc Lời Chúa, lại quyết mang một ý nghĩa khác. Ý nghĩa, của sự việc giúp đỡ người nghe đi vào hiện thực. Nghe như thế, là nghe trong tư thế sẵn sàng biến đổi từ sự bạo tàn, khó chịu thành động thái chịu khó mà sống hiền từ/tử tế. Có như thế, Lời Chúa mới tiếp tục trở thành cuộc đối thoại cởi mở, giữa Chúa và chính mình. Giữa chính mình và Đức Chúa hiện diện nơi tâm người khác. Dù người đó có là Kitô-khác, hay chỉ là người “ngoài luồng”, ngoài Đạo.

Nói cách khác, “đọc sách thánh” là đọc được sự đối thoại giữa Đức Chúa và con người. Giữa con người và con người, như Kitô-khác. Đọc như thế, sẽ như thể dám cùng nhau đứng thẳng dậy mà tuyên xưng niềm tin qua kinh Tin Kính của cuộc đời vẫn tuyên bố rằng: Chúng tôi tin vào đường lối sống Chúa khuyên dạy, từ Sách thánh. Và chúng tôi sẽ tìm cách biến Lời ấy thành hiện thực, ở đời thường.

Tiệc Lời Chúa, như thế là sự thể của toàn thể vũ trụ vạn vật. Thế nên, vào giờ nguyện cầu tiếp theo sau, lời lẽ yêu cầu vào lúc ấy không còn là những thỉnh cầu lợi lộc cho riêng bản thân người cầu và nguyện, nhưng mang tính toàn cầu. Bởi lời cầu của vũ trụ không là cầu cho ông A bà B được tìm thấy sau khi bị lạc. Nguyện cầu đây, cũng không là lời cầu của vũ trụ vạn vật chỉ xin Chúa có được sự kiện lớn lao trong vũ trụ. Nhưng là lời cầu mong cho chuyện lớn trong vũ trụ được xảy đến qua đó mọi người trở nên hiền từ/tử tế, thật giống Chúa.

Nguyện cầu vào Tiệc Lời Chúa, là nguyện và cầu để vũ trụ vạn vật có được bình an, không một ai còn hằn in tính chất bạo tàn, kỳ thị. Nhưng, biết nghĩ đến người khác. Biết hỗ trợ, giùm giúp những người có nhu cầu thiết thực, ở mọi nơi. Lời cầu và nguyện ước ấy dẫn đưa người dự Tiệc hiên ngang phấn khởi để vào với phụng vụ Thánh Thể, rất hiệp thông. Xuyên suốt. Rất đậm đà tình Chúa và tình người.

Trong tâm tình đó, nay ta lại ngâm tiếp lời thơ ý nhị còn ngâm dở:

            “Trái tim con đang rên siết héo mòn,
            Nên chạy đến bên Người con kêu khấn.
            Xin Chúa thương đưa bàn tay chí thánh,
            Giúp cho con được chắp cánh cùng nàng…”
            (Hoài Châu – Nguyện Cầu)  
    
Nguyện cầu đây, không chỉ để chắp cánh bay cao cùng nàng, về đâu không biết nữa. Nhưng nguyện và cầu, để người người biết nghe Lời giống như Chúa, chỉ muốn hiện thực ý của Ngài, mà thôi. 

Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch