Tuesday, 13 November 2018

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 33 thường niên năm B 18/11/2018
(Mc 13: 24-32)
 
Hôm ấy, Đức Giêsu nói cùng môn đệ rằng: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.

Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.”

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,”
“Hạnh phúc trần gian đang lăn từ khoé mắt.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Giòng xanh ấy, hôm nay đang tàn phá chốn dân gian, vẫn ngủ vùi. Đó, là lời thánh Máccô nay nhắn nhủ ở trình thuật về cảnh tình trời đất rất nhũng loạn. Bởi, vẫn cứ tranh giành tiền bạc cùng quyền lực, nên thiên hạ hành hạ nhau, tàn phá/chém giết nhau rồi cùng nhau đi đến chỗ tự diệt. Dân con ở đời, người người đang ở vào tình huống có cuộc sống vỡ đổ về văn hoá cả Đạo lẫn đời muốn cất bỏ mọi hỗn loạn khỏi đời mình. Là con dân Chúa, ta có thể và có bổn phận nói lên tiếng nói của mình để sửa sai thoát cơn tệ hại ngày thế tận. Nhưng, không kiểm soát được hỗn loạn ở chốn phồn hoa bát nháo, do hệ thống văn hoá, xã hội và chính trị mạnh hơn mình.

Tin Mừng chương 13, thánh Máccô không tạo cảnh hỗn loạn sánh tày vào ngày tận thế. Thánh sử chỉ trích dẫn những gì người xưa tưởng tượng hoặc nắm chắc, thôi. Thánh nhân còn muốn nhắn nhủ dân con người đọc hãy để tâm vào lời dạy của Chúa, rồi nghe tiếp câu nói ở đoạn sau: Chớ ưu tư/muộn phiền nhưng đề cao/cảnh giác quyết sống thực lời Chúa, vì người người chẳng rõ tương lai mai ngày, mình ra sao. Hãy sống hiện tại, thế cũng đủ.

Thánh Máccô không là nhà thần học cánh chung, mà chỉ là đấng thánh khôn ngoan, biết sống thực tế ở đất phàm, mà thôi. Thế nên, thay vì lập đi lập lại cảnh thế tận, có lẽ ta nên để tâm nhiều đến môi trường địa cầu, để thấy rằng: càng ngày ta càng thấy rối rắm, trục trặc xảy đến nhiều hơn mình suy đoán. Vì vậy, hãy nhất quyết làm điều gì đó, cho cánh chung. Chứ không chỉ sống đời hiện sinh thực tiễn. Đây, là lập trường nhằm cập-nhật-hoá chuyện cánh chung lẫn tư tưởng được thánh sử nói từ trước.

Cập-nhật-hoá tư-tưởng, có 9 sự việc cần bảo nhau, là: tính đa dạng sinh thái, hay thay đổi khí hậu, ngập tràn chất nitrôgen, cách sử dụng đất, cạn nguồn nước uống, độc chất uế tạp, dùng bình phun xịt không hạn chế, axít đổ vào biển vô trách nhiệm, tầng ô-zôn bị khuyết/thủng, vv…

Tính đa dạng của sinh thái, vẫn thấy dẫy đầy nơi đất trời. Một số loài, nay trên đường tuyệt chủng. So với tình hình vào độ 40 năm trước, thì nay có đến một phần ba loài thú đã biến mất. Một phần tư động-vật có vú và một phần ba động-vật lưỡng-cư cũng như một phần tư tôm cá nước ngọt cùng 15% chim muông trên trời đang bị hoạ tuyệt chủng, cũng rất chóng. 65 triệu năm nay, đây là thời điểm nguy hiểm nhất trong đó nhiều loài đang bị đe doạ biến mất dạng, rất khủng khiếp. Thời đại trước cách mạng kỹ nghệ, mỗi năm chỉ thấy có một phần triệu thú loài bị hoạ tuyệt chủng. Nay, thì con số ấy gia tăng gấp bội lên đến trăm lần. Và, theo sự tính toán của các chuyên gia, có đến cả nghìn thú loài như thế đang biến mất, mỗi một năm. Sinh thái địa cầu nay lại bị đe doạ rất trầm trọng.

Khí hậu đổi thay nay thấy rõ. Không chỉ loài người mà tất cả mọi loài lâu nay chung sống đề huề/an vui trong bầu khí quyển có khí trong lành cùng thở, nhưng nay: sức khoẻ của mọi loài cũng như chất lượng của sự sống, nay được cân đo đong đếm tính bằng số lượng thành phần trên cả triệu các-bon điôxýt bốc lên trời. Vào khi bắt đầu cuộc cách mạng kỹ nghệ, tỷ số thán khí ở bầu khí quyển là 280 phần trên một triệu các-bon điốxýt, nay đếm thấy nó lên 390 thành phần trong một triệu chất các-bpn điôxít. Hậu quả tiếp theo sau, là lớp băng tảng ở Bắc Cực đã nhanh chóng vữa chảy khiến nước biển cứ thế dâng cao. Khắp địa cầu, nay lại thấy nhiệt độ hâm nóng quả đất rất gia tăng. Lượng tuyết rơi ngày một ít, trong khi đó mực độ mưa dầm lại đã ở mức trầm kha, rất báo động.

Tệ hại hơn nữa, lại là tình trạng đất trồng trọt nay nứt nẻ/khô đanh, sông ngòi đà cạn nước, rừng xanh nay khô héo, nạn cháy rừng lại cứ bốc đồng tự phát. Các dấu hiệu của tình trạng hiểm nghèo rày tăng nhanh vượt mọi ước đoán, so sánh. Nếu đà này tiếp tục, e rằng chẳng mấy chốc các tảng băng Bắc Cực cũng sẽ tan vữa; và mưa nguồn nhiệt đới cũng bị vạ lây.

Trong khi đó, chất nitrôgen từ phân-bón hoá-học lại đã xâm nhập sông ngòi, ao hồ và biển cả, đã khoanh vùng chết chóc dành để cho sinh vật chịu đựng đến tận tuyệt.

Sử dụng đất miền đặc trưng đáng lẽ không được phép tùy tiện cho mục đích nào khác ngoài ý hướng phù hợp với thiên nhiên, đất trời. Chốn miền tạm dung cũng như mưa mùa nhiệt đới tạo thực phẩm nuôi sống mọi loài, nay bị con người khai thác gỗ để kinh doanh khiến cây xanh đành chịu cảnh nhà giàu bức tử, chẳng cần nghĩ đến ai.

Nguồn nước trong xanh ờ sông ngòi, ao hồ, miền đất ướt vốn từng là nguồn sống cho phần tư động vật có xương sống hiện diện khắp thế giới, cũng bị cạn. Xưa nay, lằn ranh giới hạn sử dụng nước được chú trọng rất cẩn thận, nay thì hầu như con người chẳng còn biết quan tâm đến cảnh báo là mình sắp sửa vượt lằn ranh khẩn trương ấy.

Chất độc phế thải tựa như thuốc DDT, bao ny lông, nhựa dẻo, vv. nay tràn lan đây đó khiến tôm cá cùng chim muông nuốt vào rồi đi dần đến cõi chết, hết thấy thiên đường. Cả đến thú đàn ở dưới đất cùng loài chim trên trời cũng bị đủ mọi loại hoá chất giết chết dần mòn, hết chữa chạy.

Bình xịt phun đựng khí CFC cùng khói đen thải từ các lò kỹ nghệ dơ bẩn ở nước nghèo thuộc thế giới thứ ba kéo về xâm nhập đá băng Bắc Cực khiến tuyết trắng khi xưa nay trở thành xam xám đen bẩn chẳng còn kỹ năng phản ánh nắng ấm về nơi tăm tối, cần tia ánh hạnh phúc.

Nay thì, 85% biển sâu hầu như bị axít-hoá nhiễm đầy chất thải từ các nhà máy, vẫn cứ dồn về biển xanh, nay hết xanh. Kết cuộc, biển cả mênh mông chuyên hấp thụ dưỡng khí nay đã nghẹn thở ngày một trầm trọng, khiến biển không còn khả năng nuôi dưỡng mọi sinh vật ở vùng biển, nữa. Thay vào đó, là chế độ axít-hoá đậm đặc ngày một gia tăng đến 30% so với dạo trước. Điều đó, cứ đe doạ mãi vùng biển san hô và mọi loài cá, tôm, điệp, mực từng là nguồn thực phẩm nuôi dưỡng mọi loài chim chóc cùng loài người này cạn biến. Cuối cùng, bầu khí quyển chứa đựng ôxy cho mọi loài hít thở lại cũng dần dà đặc sậm những là thán khí.

Lớp khí CFC đã và đang chọc thủng tầng ô-dôn cần thiết cho con người lại để cho tia cực tím tự tiện xâm nhập vùng hít thở của mọi loài khiến tình trạng sống của sinh vật trở nên tồi tệ đến mức báo động. Thế đó, là cảnh báo không khác lời thánh sử nhắc ở Tin Mừng. Thế đó, còn có vấn đề: chúng dân nay có để tai nghe lời thánh hiền đề cao cảnh giác, nữa hay không? Và như thế, sự tàn tạ ngày cánh chung, một lần nữa, lại cũng sắp đến?

Cuối cùng, sử gia nhà Đạo mình có nên viết lại chương 13 Tin Mừng thay cho thánh sử Máccô thời đại chăng? Và, người người có nên tự chế việc sử dụng hoá chất độc hại mà thực hiện cuộc sống khắc kỷ/khổ hạnh thêm lần nữa? Có nên mở cuộc tranh luận so sánh nhu cầu của môi trường và kinh tế không? Phải chăng, kinh tế thế giới rồi ra sẽ thắng cuộc? Và, người người có cần giáp mặt/đụng trận với các dấu chỉ thời đại để làm chậm bớt tiến trình hủ hoá vũ trụ, rất đáng sợ?

Hỏi thế rồi, lại cũng nên trở về với thực tại thi ca hầu ngâm lên câu thơ thực tế, vẫn còn đó:

            “Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,
            Hạnh phúc trần gian đang lăn từ khoé mắt…
            Tình đã đến trong những ngày độc dược,
            trong những ngày rữa nát mọi tinh hoa,
            trong những ngày sự sống diễn ra,
            bằng điên dại dẫm bừa lên sự sống!

Nhìn nhau đi em, để thấy tình nhu thuận,
Bản năng sinh tồn sát ranh giới tử, sinh..”
(Nguyễn Tất Nhiên – Nước Trở Về Lành Lặn)

Ranh giới tử sinh, nay gần kề. Chỉ chờ anh và chờ em, ta quyết định trở về với Nước. Nước lành lặn, cũng là Nước của mọi người cần sống có Chúa, có mọi người cùng tồn tại, rất vinh quang.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch.

Tuesday, 6 November 2018

“Anh gọi Xuân về, cho hoa trời bừng nở,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 32 thường niên năm B 11/11/2018
(Mc 12:38-44)

“Anh gọi Xuân về, cho hoa trời bừng nở,”
“Để cùng em tô hồng thắm trần gian.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)

Gọi Xuân về, hoa trời nở khắp trần gian, rất bừng sáng. Niềm tin về, trần gian bừng sáng thắm tình dân, suôt một đời.

Trình thuật thánh Máccô, nay gợi niềm tin-yêu bừng thắm có dân con mọi người được khích lệ hãy nghe lời Chúa phán định. Lời Chúa phán định ở trình thuật, thánh Máccô lại nói thêm về các hoạt động của Chúa vào cuối thời. Chúa hoạt động giảng rao Nước Trời có Lời phán về bà goá vẫn cho đi nhiều hơn lãnh nhận.

Truyền thống Do thái từ Đệ Nhị Luật, cho đến lời tiên tri Ysaya và thánh vịnh, đều dành ưu tiên cho bà goá, trẻ côi cút và người ở ngoài. Dọc suốt chiều dài lịch sử, danh sách những người được ưu tiên cũng đã được nới rộng. Trong danh sách, có tên những người từng trải nghiệm cuộc sống khó khăn qua biến cố mất việc, mất sức khoẻ hoặc mất người thân. Và, những người ở hoàn cảnh khốn khó, hiểm nghèo sống lạc loài cũng bị mọi người quên lãng. Những người như thế, thường vẫn bị tống xuất khỏi mạng lưới của tình thương-yêu hỗ trợ, cứ gặp bơ vơ, không người giùm giúp, đỡ đần.

Ở đây nữa, thánh Máccô lại nhắm thẳng đến thân phận goá bụa, đơn chiếc. Tiếng Hy Lạp và Do thái, có cụm từ “bà goá” là để nói lên sự yếu kém, bất toàn, không ai giúp. Bà goá, theo ngôn từ mê tín, bói toán lại mang tính chất một điềm gở. Ở Do thái, bà goá đôi lúc cũng được hiểu như mụ phù thuỷ, nhiều khi còn bị nghi là có tướng tá “sát phu”, thành quả phụ. Người như thế, chỉ sống nhờ bằng cậy nhờ, xin xỏ và hãi sợ mãi suốt đời.

Ngày 6 tháng 5 năm 2006, ở Lộ Đức, Pháp quốc có nhóm người tự gọi là “Nhóm Hy Vọng Vào Sự Sống” đã tụ tập nhau lại để bàn luận, nguyện cầu. Nhóm này, đa phần là các ông bà goá, lập ra từ năm 2000 đến năm này. Nhóm ấy, hiện diện ở 77 giáo phận trên khắp nước. Họ rơi vào cảnh tình tồi tệ như thế suốt từ hồi Thế chiến thứ 2, nghĩa là lúc đó, đã có 80 ngàn tù nhân chiến tranh và có sự thể là: khi họ bị bắt làm tù binh, thì người vợ của họ nghiễm nhiên trở thành người goá bụa.

Và, trên thực tế, nhóm người như thế lại trở thành nhóm hỗ trợ cho tổ chức gồm có dân con hiền lành của Đức Mẹ. Mục tiêu họ nhắm tới, là phụ giúp những ai mất đi người bạn đời nay muốn khôi phục cuộc sống qua niềm tin-yêu, quyết chuyển đổi đau khổ thành hy vọng. Chỉ trong năm đó thôi, đã có 700 người goá bụa, nam cũng như nữ, đã tụ tập nhau đi về hướng Lộ Đức. Các vị này, cứ 5 năm một lần, lại rủ nhau đi tới đó để gặp gỡ. Và từ đó, vị nào cũng cố gắng tìm thời gian tái hồi sinh lực hầu trở về với mọi người.

Theo nhóm này, thì khi có người bất chợt chia lìa xa cách, thì bạn đời ở lại sẽ thấy cô đơn theo kiểu mới. Cảm giác các người của họ, giống như đang rơi xuống vực thẳm của ngục tối. Tình cảnh này, nhóm hội cần có tình bằng hữu. Và, mọi thương tật nơi họ, lại trở thành dấu chỉ của phục-sinh. Nên, khi gặp người đồng cảnh ngộ, mọi người trong nhóm đã tìm ra được hương vị của cuộc sống. Tìm được nụ cười mà họ để mất. Và từ đó, đã sống lại sau nhiều đêm ưu phiền, thật tăm tối.

Tình thương không vụt tắt. Nhưng, vẫn kéo dài theo dạng thức mới. Bậc goá bụa nào cũng đều kinh qua tình cảnh sầu buồn, bi quan nghĩ mình chẳng thể nào về lại được với tình trạng vui sống như ngày trước.

Thế nên, một khi họ đã khám phá ra niềm vui trong tha thứ –tha thứ cả chính mình- và nhờ biết tha thứ, họ mới hưởng được hạnh phúc mới. Quả là, bậc goá bụa của nhóm “Hy Vọng Vào Sự Sống” nay đi vào cuộc sống rất đạo hạnh. Có vị trở thành linh mục, tu sĩ. Có vị lại quyết định tái giá sống vui cuộc đời còn lại với bạn mới. Tất cả, đều hiến trọn cho Chúa theo cung cách mới, mà chẳng cần đến hình thức bên ngoài. Và, trong phút chốc, Thiên Chúa đã thẩm nhập thành nguồn phúc hạnh rất mới hỗ trợ họ trải nghiệm.

Đức Giêsu gặp bà goá nghèo ở đền thờ, nơi cao sang giàu có. Đồ đệ Chúa khi ấy lại cứ mê mẩn với đền đài, khung cảnh hoành tráng những đá tảng, rất bề thế. Nhưng, Chúa đặt chân đến nơi này chỉ một lần. Và, lần đó Ngài chẳng quan tâm gì đến đá tảng hoặc cảnh quan khá nguy nga/hoành tráng, nhưng lại để tâm đến lối hành xử của bà goá nghèo, mà thôi.

Nhóm luật sĩ cùng ký lục cũng có mặt tại nơi này, ngày hôm đó. Họ súng sính trong bộ đồ lớn, rất long trọng, tựa hồ dấu chỉ của niềm vinh dự hiếm hoi, ít ai có. Dân con nhà đạo thấy họ đi vào đền, đều đứng dậy để tỏ lòng tôn kính, rất nghiêm trang. Trong khi đó, Chúa lại ăn mặc loàng xoàng, giản đơn và ngồi yên. Giới ký lục thời đó hành xử không như luật sĩ hoặc các nhà thần học, mà chỉ như các vị cố vấn tài chánh/thuế khoá, thế thôi. Đôi lúc họ cũng rút rỉa tiền bạc của chúng dân đến góp phần. Giới chức ở trên, dù không được lấy tiền do dân quyên góp, nhưng họ vẫn trông ngóng người góp quỹ sẽ hỗ trợ họ về tiền bạc. Nên, các vị đã biết khai thác tiền gom của dân lành/bà goá không rành rọt luật lệ. Dù, gọi đó là gây quỹ đền thờ, nhưng họ vẫn tìm cách nuốt trọn nguồn sinh sống của bà goá nghèo bằng những hứa hẹn sẽ đọc kinh cho các bà.

Hôm ấy, Chúa ngồi đối diện thùng tiền quyên góp. Ngài quan sát cung cách dân hiền bỏ tiền vào thùng đựng, như đồ bố thí, Ngài chẳng nói điều gì gây xôn xao, thắc mắc. Nhưng ngày nay, các nhà khảo cổ lại đã tìm được chứng 13 thùng tiền giống như thế, để dọc bờ tường của Đền thờ bị sập nát. Mẫu mã các thùng này, làm bằng kim loại nhẵn bóng, nên mỗi lần có người bỏ tiền vào đó đều nghe thành tiếng leng keng, inh ỏi. Bà goá nghèo, bỏ vào đó chỉ hai tiền kẽm, mỗi tiền trị giá 10% lợi tức cho mỗi tiếng đồng hồ của công nhân năng nổ, tức tương đương chỉ 1 đô, tính theo tiền bây giờ.

Bỏ thùng tiền chỉ bấy nhiêu, bà goá nghèo chẳng nhọc lòng dừng đứng mà suy nghĩ, nhưng bà cứ lẳng lặng tính nhẩm xem giá trị tiền mình bỏ vào đó, nó thế nào. Thánh Máccô viết chữ “chỉ đáng” ở đây, tức không nhiều. Nhưng Chúa thấy thế, lại bảo rằng: bà lão nghèo đã cúng tặng đền thờ nhiều hơn sức bà kiếm được. Điều này hàm ngụ ý tưởng, quyết bảo rằng: tầm mức quan trọng của việc bố thí, không nằm ở mức độ tiền bạc mà bà goá cho đi, nhưng là những gì còn sót lại ở nơi bà để sống.

Có thể là, bà goá hôm đó cũng suy tính: hay ta để đó rồi bọn giàu sẽ bỏ thêm cho đầy thùng. Cũng có thể, bà suy và tính theo kiểu của người nghèo vẫn nghĩ: một tiền cũng đủ, cần gì hai. Và cứ thế, bà lững thững bước đi trong trạng thái nguyện cầu, sâu sắc. Sâu sắc, theo cách bà thực hành.

Cung cách bà goá nọ làm, cũng là cung cách nói chứng tỏ, lời Chúa dạy. Chúa cũng cho, giống hệt như bà goá nọ. Ngài cho đi, trọn vẹn cuộc đời Ngài, gửi đến mọi người. Bà goá nọ cũng cho trọn vẹn số tiền giúp bà sống sót, tồn tại. Cho, là cho sạch, chẳng giữ lại chỉ một xu. Trong truyện kể thánh Máccô viết về những ngày cuối trong đời hoạt động của Chúa, có hai sự kiện liên quan đến phụ nữ. Một, là ở đoạn 14 câu 1 đến câu 11, kể về truyện Chúa được đổ dầu trút hết vào chân Ngài, là dấu chỉ Chúa cho đi trọn vẹn cuộc sống của Ngài để Ngài đi dần vào cõi chết, không lâu. Cung cách bà goá nọ cũng cho đi hết sạch, ở truyện kể, chứng tỏ rằng: Chúa đã “cho sạch” sự sống của Ngài. Điều này giống hệt 2 đoạn kết trong truyện kể do thánh sử Máccô từng ghi chép.

Truyện kể thánh Máccô ghi, cũng làm cho Giáo hội ta thêm phiền toái, nghĩ suy. Phiền ở chỗ, Giáo hội ta lâu nay vẫn cứ thực hiện xin tiền ở nhà thờ làm nhiều đợt. Xin tiền hoặc quyên góp ở đó, cũng có tông tích cũ xưa như việc cử hành thánh lễ vào thời cổ. Cử hành thánh lễ, như vào thời thánh Phaolô còn sống, mọi tiền/quà quyên góp được đều gửi thẳng đến tận tay người nghèo khó trong vùng, thánh Phaolô chẳng giữ lại một chút gì cho mình. Và, thánh nhân vẫn khước từ mọi tiền/quà góp nhặt cho riêng mình.

Sở dĩ thánh Phaolô khước từ, là bởi ông vẫn có thể sống sót bằng việc buôn bán đồ da, để trang trải tiền mướn và kiếm sống. Giả như ta có thể đề nghị với giáo hội, thay vì quyên góp đủ loại tiền vào giờ lễ, ta được Hội thánh góp tiền tặng không cho người dự. Nghĩa là, thay vì giáo dân góp bỏ vào dĩa số tiền mình bố thí, thì hàng giáo sĩ lấy tiền túi của riêng mình bỏ vào giỏ rồi phát không cho người dự lễ mang về. Chắc rằng người dự sẽ vui nhiều ngày, trong tuần.

Lời Chúa hôm nay, như con dao hai lưỡi, vừa để ca tụng bà goá, vừa chê bai nhóm thượng tế/ký lục chỉ nhắm vào giới nghèo là nạn nhân/con mồi, thôi. Trước cảnh đó, Chúa lại đứng về phía nạn nhân/con mồi, để rồi Ngài chỉ trích các vị cầm quyền, cả trong đền thánh. Ngày nay, con người có nhiều cách để khai thác/bóc lột giới nghèo hèn, tinh vi hơn. Có lao động nhiều, ta mới thấy dẫy đầy cảnh vua quan/lãnh chúa cùng đấng bậc chuyên khai thác/rút rỉa bằng hành xử kỳ thị, xách nhiễu không thua kẻ vũ phu, trùm sò. Nay, lại thấy khá nhiều người mang phận bọt bèo như bà goá, cả trong giáo hội. Thấy cảnh đó, người người mới nhớ lời Chúa nhắc nhở ở trình thuật, hôm nay 

Trong cảm kích cung cách Chúa hành xử và phán định, cũng nên ngâm lời thơ mới vừa hát:
            “Anh gọi Xuân về, cho hoa trời bừng nở,
            Để cùng em tô hồng thắm trần gian.”
            (Nguyễn Tâm Hàn – Gọi Xuân về)

Trần gian gọi, nay có Chúa đỡ nâng, giùm giúp. Trần gian nay sẽ gọi Xuân về để bừng nở. Nở hoa trời hồng thắm khắp dân gian, rất người mình.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch.

Tuesday, 30 October 2018

“Anh bâng khuâng, nghe Lời Tình réo gọi,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 31 thường niên năm B 04/11/2018
(Mc 12: 28b-34)
Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xađốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?" Đức Giêsu trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó." Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ." Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

“Anh bâng khuâng, nghe Lời Tình réo gọi,”
“Xoáy buồng tim, giọng hờn ngập không ghian.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)
Tình réo gọi hôm  nay, là cuộc tình Chúa vẫn rong ruổi, ở Nước Trời. Tình Chúa rong ruổi, để người người thực hiện thứ Tình Ngài trông ngóng dân con mọi người rày đáp trả.   

Trình thuật thánh Máccô, nay tiếp tục bàn về các thắc mắc của bạn đạo xin Chúa lời dạy hầu thi hành luật Do thái, rất Torah. Luật Torah, ghi nhiều điều rất chi tiết khó mà nhớ hết, nên bạn đạo nọ vẫn hỏi: “Điều nào cao trọng nhất trong các giới lệnh của Đạo?” Để đáp trả, Chúa tóm gọn bằng lời khuyên răn để đời: “Là, yêu Chúa và thương người”.

Yêu Chúa và thương người, giải phóng ta và đảm bảo cho ta một đời nhẹ êm, phúc hạnh, nhiều hy vọng. Lại nữa, khi suy tư chuyện này, giới lệnh của Chúa đã bảo đảm cho cả hiện tại lẫn tương lai mai ngày, chứ không chỉ là hy vọng thôi. Nhận thức như thế, thì chuyện Chúa dạy hôm, không ai có thể cưỡng chống được. Đó là điều, mà tôn giáo nào cũng coi đó như phương án giải phóng/cứu độ dựng xây trên nền tảng thương yêu. Thương yêu Chúa, là Đấng muốn ta làm thế, suốt mọi ngày. Trong đời.

Yêu thương Chúa, bắt đầu bằng việc “lắng tai nghe”, hệt như cụm từ “Shema” bên tiếng A-ram,  từng diễn tả. Tức là động thái mở tai và mở cả lòng mình ra mà nhận thức. Đây, là câu đầu của giới lệnh được ban hành trước tiên. Có lắng tai nghe Lời Chúa dạy, người người mới có thể đi vào quan hệ mật thiết với Chúa. Xem Chúa nói điều gì, để ta nghe theo. Và, ta có đáp trả theo cung cách rất riêng của mỗi người, không? Và, yêu thương Chúa, là yêu cầu đòi ta phải thực thi vào mọi lúc. Cả những lúc, Thiên Chúa là Tình Yêu đã đi bước trước để yêu ta. 

Yêu thương Chúa, là chọn lựa vốn có tự đáy lòng, vẫn thôi thúc ta có được ước ao những điều cao cả, ta chưa từng làm. Tức, biết yêu và đương yêu hết mọi người. Thông thường, ta vẫn chọn người tốt đẹp và đáng yêu nhất là chính Chúa, để làm trước. Yêu thương Chúa, còn là vào với tình bằng hữu Chúa dành để cho ta, và mọi người.

Nói cách khác, yêu thương Chúa không có nghĩa cứ bỏ cả đời ra mà “kiếm tìm” Chúa khắp nơi. Cho bằng, cứ để Chúa tìm đến với mình như gương mẫu cho mọi người bắt chước. Sự thật thì, trước khi ta đi tìm Ngài để yêu thương Ngài, thì chính Ngài đã quan tâm tìm đến ta và Ngài sẽ làm thế mãi muôn đời. Ta chẳng cần tìm, mà chỉ cần cảm tạ Chúa là hơn cả. Và cách hay nhất, cuối cùng là hết lòng cảm tạ vì Ngài vẫn thương ta, dù ta đã không làm thế.

Yêu thương Chúa, là thương yêu hết mọi người. Cả người cận lân, lẫn kẻ xa lạ. Yêu thương như thế, sẽ đưa ta vào với thứ tự của lòng bác ái, rất thương yêu. Đưa ta vào hệ cấp/phẩm trật của mọi thứ rất đáng thương, ở đời người. Yêu thương như thế, tức biết đặt thứ tự trên/ dưới, trước/sau cho các loại tình mà mình đương yêu. Yêu thương Chúa, là yêu bằng tình yêu đặt trên mọi danh sách, mọi thứ tình, ở đời. Là, đi thẳng vào trọng tâm của mọi sự, để rồi ta sẽ thong dong không còn ưu tư/lo lắng về mọi chi tiết lề luật. Thong dong, cả với Lề Luật, rất Torah nữa.

Ở đây, điều đó là một lạ kỳ, rất lớn lao. Lạ và kỳ, là ở chỗ: giới luật Yêu Thương Chúa, không chỉ là luật yêu thương người đồng loại trước nhất. Mà là, yêu thương chính mình trước đã, rồi mới thương yêu người đồng loại. Bởi, thương yêu chính mình, là ví dụ cụ thể. Là, chứng minh rằng mình có khả năng yêu thương người nào khác hơn là chỉ mỗi mình. Là, yêu bất cứ ai. Đó, chính là ý nghĩa của lời dạy: hãy yêu thương người khác, như thương yêu chính mình. Sự thật thì, ta chẳng thể yêu ai khác, nếu không thương mình trước đã. Cũng, không thể thương yêu họ theo kiểu Chúa thương ta.

Theo thiển ý, yêu thương Chúa là biết lắng nghe và đối thoại bằng tình bạn. Lắng tai nghe, để còn biết tình Chúa thương ta, không là tình ích kỷ hoặc thứ tình của Narcis “chỉ biết mỗi mình”. Đó, là tình bạn mà Đức Chúa, Đấng đã bỏ cả thời gian vĩnh hằng để thương ta. Để làm ta vui. Điều này, như có nói ở trình thuật, là thứ trò chơi khác hẳn luật lệ, hoặc nghi lễ tế tự, cầu nguyện.

Chúa thấy người bạn ở trình thuật nhận ra được thông điệp Ngài chuyển cho anh, nên Ngài bảo: “Anh không xa Vương Quốc Nước Trời là mấy!” điều này cũng giống như Lời Ngài còn nói với tay tội đồ bên thập giá: “Hôm nay anh sẽ cùng tôi về nơi Thiên Quốc.”

Yêu thương Chúa. Thương yêu chính mình, còn là yêu tất cả bạn bè người thân rất gần cận. Đây, còn là bài sai Chúa đưa ra. Là, giới lệnh mà đôi lúc ta thấy ngại khi yêu cầu mọi người yêu thương nhau như họ từng thương yêu chính họ. Nói như thế, là bởi ta không chắc họ có yêu chính họ rất nhiều, hay không.

Ở đời, nhiều người vẫn cứ tìm cách không yêu thương chính mình, sợ rằng thứ tình yêu ấy chỉ có với người lành thánh, mà thôi. Thật ra, không phải thế. Hãy yêu thương chính mình trước đã, rồi ra mình cũng sẽ nhận thức rằng: Chúa rất yêu ta. Và, Chúa sẽ cùng ta thương yêu những người gần cận, rất nhân loại.

Nhiều người nay lại dấy lên một thứ luật lệ về “trút sạch” để trói mình vào với yêu cầu biến mình nên “trống rỗng”, tức trở thành thứ “sắc sắc/không không”, hư vô, vô bổ. Thật ra, ta đã cảm kích thứ tình rất hay này rồi. Nhưng, mỗi khi ta ra đi mặc lấy cho mình cách này thì cuộc sống dần dà rất ít theo kiểu “trút sạch” hoặc “trống rỗng/hư vô”. Làm thế tức là ta đã khám phá ra rằng: nơi ta, đã có rất nhiều điều/nhiều thứ, mình không biết. Điều ấy, thứ ấy có thể là: Chúa vẫn yêu ta. Ta và Chúa cũng đang yêu thương hết mọi người, rất đương yêu.

Rất nhiều người, lại vẫn cảm kích/khích động về bí nhiệm của Chúa. Nhưng, huyền nhiệm nơi Ngài là sự thể cho thấy: tất cả những gì Chúa sở hữu, đều là và chỉ là chuyện Ngài đương yêu ta và ta được bao gộp vào với đối tượng của Tình Ngài với ta, và thế giới. Bên dưới tất cả những chuyển nhượng tình của ta đối với mình, và tình mình với mọi người, đó là Thiên Chúa, Đấng thuộc về ta rất vô hạn định trong bản-thể-rất-thánh mà Ngài ban cho ta.

Thương yêu chính mình, là cứ để như thế, vì Chúa. Cứ để Chúa yêu ta, rồi ra ta sẽ đạt mọi chuyện. Đôi khi, ta lại nghĩ: đó là giới lệnh trước nhất rất cao cả, so với mọi giới lệnh. Hiểu được thế rồi, ta sẽ vượt thắng mọi tranh cãi/biện luận về tính cách tự-hy-sinh hoặc tự-phát để trở thành sự thể đời mình. Tất cả không là gì khác, ngoài chuyện đó. Đó, là điều ta sở hữu nhiều hơn chuyện tự bằng lòng về những gì là tầm thường.

Và, đó cũng là sự thể để ta lướt vượt mọi bận tâm có thể có khi cái chết đến gần với ta. Lướt vượt cả mọi cấm đoán, huý kỵ và hạn chế trong đời người.
Trong tâm tình cảm thông sự việc cần biết và cần hiểu, cũng nên ngâm tiếp lời ca trong bài thơ rất mộng ở trên, rằng:

            “ Anh bâng khuân nghe lời tình réo gọi,
            Xoáy buồng tim, giọng hờn ngập không gian.
            Âm mơ hồ vọng tự cõi xa xăm,
            Tiếng réo gọi trả mình thời hoa mộng.”
            (Nguyễn Tâm Hàn – Âm Vọng)

Âm vọng của nhà thơ vẫn lờ mờ, nhưng vẫn thích. Âm vọng của bạn đạo từng hỏi, là vọng âm của tình tiết lặng câm, vẫn nằm trong lòng, nay xuất thành lời. Lời hỏi han. Lời vàng Chúa dạy, rất tình tiết.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch.