Monday, 16 September 2019

Người ta xa lánh cả tôi rồi

Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 25 thường niên năm C 22/9/2019
Lc 16: 1-13

     Khi ấy Đức Giêsu nói với các môn-đệ rằng: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

     "Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: "Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm! Ông Abraham đáp: "Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

     "Ông nhà giàu nói: "Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này! Ông Abraham đáp: "Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó. Ông nhà giàu nói: "Thưa tổ phụ Abraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối. Ông Abraham đáp: "Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin."

           
Trình thuật thánh Luca, cũng mang nhiều ý/lời về những người tìm đến Chúa để nghe Ngài giảng. Trình thuật, kể về ngôn-ngữ sử-dụng trong Đạo, tiếng Hy Lạp có cụm từ “parrhesia” bên tiếng Anh nghĩa là: phát-ngôn thẳng thừng về nhiều việc và nhiều sự.

Parrhesia lúc đầu mang nghĩa tiêu cực để chỉ người nói nhiều không ngừng nghỉ. Theo nghĩa này, Parrhesia không xứng với người nói chuyện đứng đắn. Tính tích-cực ở Parrhesia là: phẩm-chất của người nói năng thẳng-thắn, không úp mở, cũng chẳng thêu thùa/thêm thắt, chỉ diễn-tả thông-điệp của người nói muốn đưa ra, không che đậy. Xem thế, thì đây là sự-việc đáng ta ca ngợi.

Parrhesia thực sự liên quan việc người nói có dính-dự, dám chấp nhận phản-ứng bất lợi từ người nghe. Người nói kiểu này, đã mê say cảm xúc nhắm vào sự thật, không cần biết điều mình nói có tốt lành hay không. Nói thế, là quyết thuyết phục cả những người kình-chống lại mình nữa. Nói năng kiểu huỵch toẹt ra ngoài, là nói với đám đông thường nghĩ khác điều mình muốn nói, hoặc chẳng nghĩ gì. Nói như thế, là giáp mặt/đối đầu và nghĩ rằng sự thật sẽ thắng thế, rất chắc chắn.

Nói theo kiểu thẳng thắn, là quyết phấn đấu trong lời mình nói ra. Là, đầu tư vào những gì mang tính đích thực, tức: thể loại này nói với nhiều người không theo sự thực; tức: nói theo kiểu ai oán là cốt tạo năng-lượng để nói cho tốt, cho nhiều và hữu hiệu hơn. Kiểu này, có thị-kiến ngoài tầm-mức địa-phương/cục-bộ hoặc riêng tư, mang tính hoàn-vũ ở trong đó. Đây là cách nói mãnh liệt, quyết chuyển tải tính chân phương, thật-thà mà có người, khi xưa, gọi là lối nói hiệu năng như có bia/rượu, ngấm trong người.             

Khi người nghe bị ảnh hưởng từ người nói hăng say/thẳng-thắn, thì họ chịu lắng tai nghe và chịu để cho người nói thuyết phục mình và lôi cuốn đi xa hơn điều mình tưởng tượng. Parrhesia tạo niềm tin nơi người nghe. Và, niềm tin đến từ sự việc nghe/biết lời ấy. Đây là trạng-thái gắn kết giữa người nói cũng như văn bản được nói ra và người nghe.

Có khi người nói kiểu “parrhesia” hứng khởi với thông-điệp mình chuyển-tải đến độ không ‘thần-linh’ nào có thể dừng trên người nói. Quả là, có lúc Kitô-hữu sử dụng lối nói thẳng-thừng này, hứng thú đến độ họ dám chối bỏ sự hiện hữu hoặc tính hiệu năng của các ‘thần-linh’ như thế. Họ cười nhạo vào phụng vụ ngoài đạo và có khi vào cả nghi thức của Kitô-giáo nữa. Đôi lúc họ có vẻ tự cao tự đại, nữa.

Điều này là do lối nói thẳng nối kết họ với Thiên Chúa đích-thực, Đấng mở rộng lòng ra và thương xót không hạn chế, mà thánh Luca chuyển cho ta trong Tin Mừng và sách Công Vụ. Các vị thuyết-giảng lại nói thẳng theo kiểu perrhesia đã trở nên trong sáng với Chúa đích-thực và mở lòng ra với
Đấng Cao Cả được nâng cao vượt quá chân trời tưởng tượng.

Nói thẳng thừng kiểu parrhesia còn đối chọi lại lối hùng biện, xã giao gột tỉa. Đó là lối nói không rào đón khác hẳn ý nghĩa mà cụm từ Hy Lạp gọi là ‘eulabeia’, tức: lối hùng biện diễn-tả theo cách ‘hoa hoè hoa sói’, khó kềm chế.

Thế nên, không lạ gì khi ta tưởng tượng cảnh những người nói thẳng/nói thật kiểu parrhesia lúc đầu đã quảng bá Tin Mừng Chúa-Sống-lại đến tận thành đô của Đế Quốc. Nhưng, khi đã hoàn tất, thì ít cần lối nói thẳng thừng kiểu parrhesia, vì lối này rất cứng. Đời sống của con người đòi họ phải có lối nói thường tình như dân gian mọi người thường nói. Vậy, với thế hệ người nghe là con cháu về sau, hỏi rằng lối nói thẳng thừng như parrhesia có làm mất đi tính riêng tư của nó không?

Vương Quốc Nước Trời của Chúa là chế độ quà tặng mở rộng gồm các giá trị tự tại, trong đó con người quan trọng hơn sự vật. Và nhất là, tình thương-yêu còn quí hơn thành-đạt. Nhưng đây có nghĩa là tình thương-yêu thông minh/trí-tuệ và tình thương có suy-tư được ban phát, tức có nghĩa trong bối cảnh của nó.

Sự việc ta hiện diện ở Tiệc Thánh, nay tự nó có nghĩa: ta tin vào các giá-trị đang hiện diện quanh ta và ta muốn sống đích thực giá trị ấy và lối nói thẳng dẫn ta về sống xứng đáng con Chúa hơn. Sự việc ta ra đi hoạt động vào những ngày sắp tới trong các tuần đang trờ tới, có nghĩa: ta là người thực tế/thực dụng sống thông minh/bén nhạy theo cách ta được dạy để sống cùng và sống với nhau. Nói thế, là: ta sống đứng đắn, dù không là thế hệ đầu nghe biết Tin Mừng, nhưng vẫn muốn thành người lý-tưởng và thực tế, cùng một lúc.

Dụ-ngôn ta nghe hôm nay, là thánh Luca dùng để nói theo kiểu parrhesia, vào thời của thánh-nhân nhưng sắc thái có phần nhẹ nhàng hơn. Điều đó có nghĩa: phải biết khôn khéo, bén nhạy, ‘cẩn trọng’ và có khả năng tạo tầm kích cách biệt giữa lý-tưởng và thực tế; kỹ-năng giúp ta đọc được mức độ hiểu biết của người nghe ngõ hầu ứng-đáp với kiểu nói parrhesia, của thời trước. Đây là cách lối rất khôn khéo biết tạo tầm-kích về khả năng có được phẩm chất cuộc sống trong một nhóm.

Dụ-ngôn, nay thánh Luca sử dụng như để làm bớt đi tính căng thẳng nơi sắc thái nói năng của các nhà giảng thuyết, thời của ngài. Bằng không, ta sẽ nhận được một bó phẩm bình theo kiểu của Billy Grahams cứ hùng hồn biện-luận với nhóm giáo phái tách riêng, ngay vào lễ sáng.
Nối kết những đường lối nói năng này với tình cảnh của Giáo hội ngày nay, ta thấy được gì? Vài thập niên nữa, Giáo hội mình sẽ đi về đâu? Phải chăng sẽ xảy ra  thời buổi trong đó sẽ có đổi thay trên thế giới? Và trong cả Giáo hội mình? Cũng có thể, sẽ có thời kỳ bất ổn về cơ cấu sẽ xảy đến với thế giới và Giáo hội!

Giáo hội theo ta hy vọng sẽ không rơi lại vào thời cũ xưa ở đó có nhiều thành-tựu. Hy vọng rằng: ta cũng sẽ vượt qua giai đoạn có những cãi tranh, giành giựt uy thế với ai đó. Cả đến xã hội phóng khoáng hay phóng túng, thời hiện đại, cũng sẽ tìm cách sống mà không cần biểu tỏ bằng mặt ngoài là đã qui chiếu vào với Giáo hội. Lâu nay, thế giới ngoại tại vẫn có khuynh hướng hoặc thái-đô chống đối Giáo hội. Tất cả những lối/những kiểu thẳng-thắn/thẳng thừng ấy sẽ đi vào dĩ vãng.

Bởi Giáo hội không là cơ cấu chống đối xã hội; Giáo hội cũng không ở bên trên lịch sử của người đời, cũng không vô nhiễm khỏi giòng lịch sử của thế-giới. Giáo hội vẫn cùng sống chung cởi mở và đối thoại với thế giới. Giáo hội chỉ sống sót nếu biết đối thoại với thế giới. Bởi Giáo hội ban bố cho thế giới cung cách diễn tả cách công khai về mọi xác tín của Giáo hội. Giáo hội cũng công khai cho thấy cuộc sống người đi Đạo theo cách tập thể, dễ thấy sự trong sáng, cách công khai.

Cần nói ra đôi điều về đạo đức chức năng của hai khối, cần nói về ý-nghĩa và giao ước về xác tín với cộng đồng, về niềm tin-yêu, rất đoàn kết. Cần nói thẳng và nói thật về kinh nghiệm riêng tư bên trong lịch sử của tập thể. Tất cả nên đề nghị không gian ban tặng để tạo giao ước sống cùng và sống với nhau, trong thuận hoà.

Vấn đề là: làm sao nói lên được điều đó? Nói thẳng và nói thật theo kiểu parrhesia được bao nhiêu và bao lâu? Nói công khai khôn khéo ư? Mỗi thứ mỗi kiểu được bao lâu và bao nhiêu ngõ hầu đạt thuận hoà, đoàn kết và vui sống, đó mới là mục tiêu đặt ra trước mắt cho cả xã hội ngoài đời lẫn Giáo hội trong Đạo. Đó mới là vấn đề đặt ra cho ta hôm nay.

Lm Kevin O’Shea biên soạn – Mai Tá lược dịch

Tuesday, 10 September 2019

Hỏi hoa, hoa vẫn thôn đào liễu


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 24 thường niên năm C 15/9/2019

     Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng." Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:

     "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó. Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

     "Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối."

     Rồi Đức Giêsu nói tiếp: "Một người kia có hai con trai.12 Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

     "Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: "Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy. Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

     Bấy giờ người con nói rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.

     "Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: "Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: "Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!

     "Nhưng người cha nói với anh ta: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy."

Trình thuật, nay thánh Luca cũng đã đưa vào dụ-ngôn kể nhiều điều về mất mát. Mất chiên, mất tiền mất cả tình người ở đời. Dụ ngôn mất mát, là truyện kể rút từ bài Thánh Vịnh được vua Đavít sử dụng chủ-đề “chiên lạc” hầu nhắc các nhà lãnh đạo Do thái hãy nhớ dân con do Chúa trao phó cho họ, để chăm nom.
Trình thuật, kể về mất mát bằng ba dụ ngôn tiếp theo nhau, là: mất chiên, mất tiền và mất con trai. Mất chiên, là ấn bản văn xuôi qui chiếu Thánh vịnh 23 có nói rõ: “Đức Giavê là Chúa Chiên.” Mái ấm của “chiên-không-lạc”, là nhà Chúa khi chiên con sống ở đó, rất hoan hỉ. Dụ ngôn này, chú trọng đến sự việc con người tuỳ thuộc vào Chúa trước khi lập giao-ước với Chúa, ở Israel.
Dụ-ngôn “bà goá mất tiền cắc”, chỉ nên hiểu theo ảnh hình người nữ phụ miền Cận Đông có thói quen đeo chuỗi tiền đồng ở cổ. Chỉ cần bà mất một đồng ở chuỗi thôi cũng làm cho bà thấy như mất tất cả. Chuỗi tiền đeo cổ đối với cô dâu thời trước, tượng trưng cho giới-tính và quan-hệ trong hôn-nhân.
Dụ-ngôn mất con trai nơi truyện “người con đi hoang”, biểu trưng cho quan-hệ hoàn-vũ trọng-tâm nhắm vào người cha nhân hậu. Dụ ngôn này, không nói đến người mẹ hoặc các chị/em trong nhà. Có thể là thời đó, phụ-nữ trong gia đình chỉ có vai trò quan sát, mà chẳng nói năng chi. Dù vậy, các nữ-phụ vẫn cần được người khác phái quan tâm, hội ý và nghe theo ý-kiến họ đưa ra.
Rất có thể, các nữ-lưu ở đây cũng muốn tỏ cho người con thứ hai biết: gia tài dành cho anh cũng không xứng để anh cứ phải quan tâm đến nó, trong đời mình. Mái ấm gia đình, không chỉ mang nặng ý-nghĩa về kinh tế. Cũng có thể, các người nữ trong truyện vẫn muốn cho nam nhân trong nhà biết bỏ qua chuyện nhỏ nhặt, để lưu ý mỗi chuyện lớn trong gia đình khi xảy đến. Ở đây, gia đình của người Cha nhân hiền là ảnh-hình về Hội thánh hôm nay đặt nặng vai trò, năng-lực cũng như tình thương yêu vỗ về rất khéo léo của nữ-giới, là chuyện rất nên làm.
Nói cho cùng, truyện “người con đi hoang” không kể về người cha chuyên lo chăm sóc và thứ tha con mình, cho bằng cha nhân hiền mừng rỡ vì đã tìm được con, nay trở về. Đây mới là ảnh-hình về công việc Chúa vẫn làm. Thiên Chúa thực sự vẫn hữu dụng và đặt hy vọng vào tình yêu Ngài đối với ta sẽ chuyển đổi động-thái của ta và mọi người. Chúa thương ta một cách vô-điều-kiện. Ngài thương yêu, không chỉ mỗi dạy bảo: nếu biết hối hận, thì ta sẽ được Chúa thứ tha hết mọi tội. Mà là, nếu như ta biết mình có lỗi, rồi xưng thú và biết mình sau đó phải làm gì để được tha, đó là: biết lấy áo đẹp mà mặc; biết xỏ nhẫn vào tay và đi giày dép cho chỉnh, rồi thoát ra khỏi tình trạng vẫn như cũ.
Nói cho cùng, cả ba dụ-ngôn về “mất mát và tìm được”, cùng nói lên một ý niệm về lý lịch của người con Chúa, về sự tùy thuộc và sự chủ-động, trưởng-thành. Lý lịch đây, có thể so với vị thế của Hội thánh ngày hôm nay. Hội thánh, nay gồm những người vẫn ở lại hoặc ra đi vào chốn nào đó, biến mất. Dù, đã trải qua bao ngày tháng những thăng trầm, thành viên Hội thánh được yêu cầu hãy hành xử sao cho phải đạo. Bởi, lý lịch của con dân đi Đạo là biết sống có tương quan, sống tùy thuộc vào nhau và hành xử như người chín chắn, rất trưởng thành. Tự kiểm nhiều, người Công giáo hẳn sẽ thấy mình cũng như “người-con-đi-hoang”, như chiên con lạc đàn hoặc như đồng tiền bị luột mất, cần trở về với giá trị có ý nghĩa, chấp nhận và cử hành việc tuỳ thuộc vào truyền thống.
Với hội thánh, có hai loại tuỳ thuộc thấy rất rõ, đó là: lớp người được coi như “không chính-thức” và các đấng-bậc rất “chính thức”. “Không chính-thức”, là: lớp người sùng đạo, các nhóm đọc kinh “tôn vương” Đức Bà, nhóm trẻ chủ trương công bằng xã hội, nhóm người thích học hỏi Kinh thánh, nhóm nghiên-cứu thần-học hoặc giới truyền-thông Công-giáo có cảm nghiệm chính trị, các vị tuyên-uý và nhiều người không tên tuổi nhưng vẫn sống đạo. Đấng bậc “chính-thức”, gồm các chủ chăn và các đấng bậc ở dưới trướng, như: hội đồng giáo xứ, toà giám mục, nhóm kiểm tra y tế, giáo dục hoặc phúc-lợi.
Nhóm “không chính-thức” lại thường cứ “kính nhi viễn chi”, tức: đứng xa xa các bậc “chính-thức”, có khi còn đứng ở bờ rìa, đôi khi còn cản-trở bước tiến của một vài đấng nữa. Nhiều đấng-bậc lại cứ muốn an-toàn lành-lặn cho chính mình nên không thích dính-dự vào chuyện của lớp “không chính-thức”.
Nơi Giáo hội Công-giáo, các đấng bậc “chính-thức” thường điều-hành lớp người tuỳ thuộc, tức  nhóm “không chính thức” theo cách từ trên không hoà mình, không trộn lẫn rất anh em, mà chỉ có tinh thần đứng ở xa chỉ nhắm vào lợi ích cho giới cầm quyền trong giáo hội, mà thôi. Phần đông người Công giáo xem ra vẫn sống an phận và dễ dạy, chẳng muốn tranh đấu chi cho rắc rối.
Nhưng điều trớ trêu, là: hai nhóm người này đôi lúc cũng gây phiền toái cho nhau. Phía các đấng bậc có lối sống “chính-thức/chính qui”, thì: đôi lúc cũng muốn chơi trò đô hộ, rất thống trị. Tức: thứ trò chơi “nội bộ” mà một số người ngoài cuộc nay cũng biết. Thế nên, các đấng bậc bèn tìm cách kềm kẹp, bủa lưới rắc rối hoặc cấm kỵ. Dân con ở hệ-thống bên dưới, chỉ biết lĩnh nhận theo kiểu “dễ dạy”, rồi cứ thế lặp lại cùng một động-thái.
Và, tỉ số của trò chơi được đếm điểm để trò chơi được hấp dẫn, tiếp tục. Một số người, lại nhớ đến trò chơi hồi còn bé, như một thực tế cần lẩn tránh, nay trở về thành kinh nghiệm từng trải, như thực tại khó tránh khỏi. Tệ hơn nữa, sự việc lại cứ diễn tiến theo kiểu cách cũng rất lạ, đôi lúc có cả tham nhũng, thối nát xen vào, nữa.
Lớp người “không chính-thức” lại vẫn chơi trò giải trí bằng cách cứ đưa ra chủ đề này/khác rồi thành lập nhóm mới có ý tưởng hoặc lối sống mới có lòng đạo, nhưng rồi cũng không được bền. Đấng bậc “chính-thức” trong Đạo, thì chẳng hề ưu tư gì về những chuyện như thế. Nên, chừng như các đấng bậc lại sống lâu, sống thọ ở vị trí cao.
Có lẽ cũng là điều tuyệt vời cho Giáo hội, nếu như các đấng bậc ở vị thế “chính thức/chính qui” và dân thường “không chính thức” trong Đạo, lại biết hoạt động theo kiểu hiệp thông/nối kết với những thứ diễn tiến theo tầm kích an-toàn, lành mạnh. Mục đích của hiệp thông, không để kiểm soát hoặc “giữ chân” họ. Nhưng, hiệp thông trong quan-hệ để đề nghị với mọi người điều gì đó, rất khả-thi. Đây là thứ nối kết với Truyền thống lớn lao –cả không gian lẫn thời gian- hơn bất cứ kinh nghiệm từng trải nào dù chính-thống hay không cũng vậy. Lớn lao, hơn mọi kinh nghiệm nào khác, của dân gian.
Đó, là tính-chất “giữ chân” mọi người ở lại với thứ gì đó rất lớn lao, chứ không chỉ giữ người ở lại cho nhiều, trong Giáo hội. Giáo hội ta, vẫn có chốn miền trong đó ta có thể thực thi những gì mình được mời gọi lướt vượt chính con người mình, để đi vào với Giao ước trong đó ta không còn khác biệt nhau về ngôn ngữ lẫn danh xưng, điạ vị trong Hội thánh nữa.
Vấn đề là: mọi chuyện đều sẽ không tùy thuộc vào đàn ca/loại nhạc mới hay ho, đúng đắn hoặc có sốt sắng, cũng chẳng tùy vào bài chia sẻ ngày Chúa nhật hoặc nghi thức phụng vụ có cải tân hay không. Và, mọi sự cũng sẽ không tùy thuộc vào tính cách thiên vị hoặc tính chính trị của nhóm hội nơi nào đó; và cũng chẳng tùy vào chuyện xét xem dân con đi đạo có tốt lành/hạnh đạo không.
Hơn nữa, thực chất vấn đề không tuỳ vào điều gì khác một khi ta nếm trải một chút tự do. Cũng không còn tùy thuộc vào ai hay vào đấng bậc nào đi nữa. Chính khi đó ta sẽ hiểu rõ hơn là cứ nghĩ rằng mình biết tất cả, hiểu được mọi thứ. Vì thế nên, ta có lý để hành xử tốt đẹp hơn mọi người.  

Lm Kevin O’Sheas biên soạn – Mai Tá lược dịch

Tuesday, 3 September 2019

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 23 thường niên năm C 08/9/2019
Lc 14: 25-33

Khi ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu, Người quay lại bảo họ:
"Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.

"Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: "Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc. Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

     “Em còn nhỏ làm sao mà biết được,”
“ta oặn mình trong những khổ tâm riêng.”
(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Với nhà thơ, làm sao biết được sự đời vì tuổi nhỏ. Nhỏ về tuổi, nhưng vẫn có nỗi khổ tâm riêng, rất oặn mình. Với nhà Đạo, tuổi đời của ai đó tuy có nhỏ, nhưng nếu người tuổi nhỏ biết lắng nghe và thực hiện lời Chúa, thì đời mình rồi cũng sẽ vui.

Lời Chúa hôm nay thánh Luca ghi, là Lời nhắn mọi người hãy từ bỏ giàu sang bạc tiền, của cải. Lời Chúa, vẫn là bí quyết để sống vui, sống đẹp, sống thanh thản như Ngài từng khuyên. Từ bỏ của cải/bạc tiền vẫn là chuyện dĩ nhiên. Dĩ nhiên, cho người tuổi nhỏ và dĩ nhiên cho cả người đi Đạo những biết phải bỏ rời cả mẹ cha và quá khứ, để theo Chúa.

Bỏ và rời, người nhỏ tuổi đôi lúc cũng chơi trò thương-ghét/ghét-thương cả mẹ cha đến độ khép kín cuộc đời lành, để mải miết với thú vui tạm bợ, sống lạc lõng. Lớp người tuổi nhỏ ở đâu cũng có, chẳng bao giờ mãn nguyện với hiện tại, nhưng vẫn kiếm tìm những thứ mới lạ và khác biệt, coi đó là lý tưởng cho riêng mình.

Lý tưởng mà người tuổi nhỏ hằng kiếm tìm bao giờ cũng đẹp, nhưng đôi khi vẫn là những thứ và những sự khó đối mặt để cùng sống. Những thứ và sự ấy, nhiều lúc kiếm tìm mãi vẫn không gặp, khiến người người chẳng biết đi hoặc đến nơi đâu mà tìm kiếm. Lắm lúc như có cảm giác mọi sự đã hiện diện trong con người mình mà không biết, nhưng lại cứ lùng tìm chiếm đoạt nó cho bằng được.

Người tuổi nhỏ có lý tưởng, tuy chưa đạt những thứ và những sự mình hằng ước, nên mới xác tín rằng: những thứ ấy luôn hiện hữu và nghĩ rằng: mình được “phép” tận hưởng mọi thứ theo cách tưởng tượng. Và, vì chưa đạt được những gì mình kiếm tìm, nên người tuổi nhỏ vẫn tìm kiếm mãi. Kiếm và tìm, như thiên đường được báo trước.

Cuối cùng, người người lại triển khai niềm tin riêng tư bằng quả quyết: chắc chắn có thiên đường. Đó là niềm tin. Là, xác tín của mọi người dù lớn nhỏ. Đó, là huyền-nhiệm tuy không định nghĩa được, nhưng ta vẫn muốn có, dù chưa gặp.       

Trình thuật, nay đề cập chuyện “cởi bỏ” giàu sang, bạc tiền hiểu theo nghĩa rộng, tức: những thứ và những sự mà mọi người dù lớn/nhỏ vẫn cần rũ bỏ. Đó, chính là nỗi khó cho người tuổi nhỏ khi chưa đạt được những gì mình kiếm tìm. Chưa đạt, nên khó mà rũ bỏ. Tuy nhiên, Lời Chúa vẫn dạy mọi người cần rũ bỏ những gì là năng lượng chìm sâu trong quyết tâm đưa mình vào thứ gì khác lạ. Thứ gì khác, là khả năng suy nghĩ về sự sống; về cả khả năng vấn nạn mọi sự trong cuộc đời.

Đi vào cuộc sống, là kiếm tìm niềm tin. Kiếm tìm, một lý tưởng nào đó khiến người người thuộc mọi văn-hoá, lứa tuổi cũng như giai tầng xã hội đều thực thi trong xã hội. Xã hội ngoài đời gồm những vị trưởng giả cũng như giới nghèo/hèn ở cấp thấp vẫn kiếm tìm “thiên đường hạ giới” nơi cuộc đời. Kiếm tìm mãi, mới khám phá ra rằng: thiên đường mình tìm để sống không là chốn miền ao ước, mà là trạng huống sống có tình thương-yêu, giúp đỡ lẫn nhau. “Thiên đường hạ giới”, là diện mạo trần thế của niềm tin, chứ không là chốn vui chơi, sa đà.

Cuộc sống người Công giáo các thập-niên qua, nhiều người lại đã nhận ra rằng: dù vẫn tin, nhưng niềm tin của ta ra như còn mang tính chất của “người tuổi nhỏ”, dù đã lớn. “Tuổi có nhỏ”, nhưng bằng vào cách nhìn về Hội thánh như giấc mơ. Mơ, rằng: cả trong lý tưởng để sống cuộc sống “thiên đường hạ giới”, người người vẫn có nhiều hạn chế. Mơ, còn vì Hội thánh ta chẳng khi nào trưởng thành được nếu không thực hiện điều Chúa nhắc nhở.

Hội thánh ta sẽ chẳng thể nào tìm ra được “thiên-đường-cửa-hẹp” như Chúa nói, nếu không biết cởi bỏ tình huống khép kín, đóng khung, chia cách. Trái lại, nên hiệp thông, yêu thương, giùm giúp nhau. Yêu thương giùm giúp trên đường tìm kiếm cách-thế trưởng thành trong san-sẻ “thiên-đường-cửa-hẹp” có niềm tin sâu sắc. Nhiều thập-niên qua, người Công giáo vẫn cứ ngồi lì trong tình-huống rất “tuổi-nhỏ”, lại chưa đạt tình-trạng trưởng-thành của văn-hoá sự sống, rất đúng nghĩa. Sống, có tin và yêu thương lẫn nhau như người anh người chị cùng một cha, một mẹ.

Chín-chắn/trưởng thành, nằm trong hy-vọng cũng như niềm tin. Hy vọng và tin-yêu như tín-hữu cộng-đoàn tiên-khởi thời của thánh Luca từng sinh sống, dẫn dắt. Cộng-đoàn khi ấy cũng có yêu và có ghét. Yêu người cùng giòng giống, ghét đế quốc La Mã thời trước từng bách hại cộng đoàn mình. Tuy nhiên, cộng đoàn thánh Luca cũng đã kinh qua các giai đoạn khó sống, để rồi tỉnh thức trỗi dậy đi vào một thế giới khác biệt, quyết trở thành tín-hữu của Chúa, đã đổi mới. Thánh Luca tin tưởng điều ấy và tìm cách huấn-dụ dân con đồng Đạo đi vào “thiên-đường-cửa-hẹp”, Chúa muốn đi.

Cộng-đoàn Luca cũng kiếm tìm nhiều, đã nhận ra chân lý, nên thấy được rằng: muốn trở thành dân con đích thực của Chúa, ta đừng quá bận tâm vào chuyện kiếm tìm “thiên-đường-cửa-hẹp” mà làm gì. Bởi, trước khi ta tìm ra Chúa, thì Ngài đã tìm ta và thấy ta. Ngài đón nhận ta làm con của Ngài, ngay từ đầu. Đó, chính là huệ-lộc Chúa ban cho ta một cách nhưng-không. Ta chẳng cần kiếm hoặc tìm mà chỉ cần duy trì quà tặng bằng quyết tâm tin, yêu, hy vọng vào tình Chúa vẫn thương ban.

Huệ-lộc Chúa tặng ban, ta không có khả năng tự mình rút tỉa, nhưng đó là quà nhưng-không, Chúa biếu không ngay từ đầu. Huệ-lộc, biến thành thứ gì đó rất trừu-tượng trừ phi nó được Chúa tặng ban cho ta, không cần đến bàn tay ta dính vào. Điều tuyệt vời, là ở chỗ: quà ân-huệ “đã” được Chúa tặng ban cả vào lúc trước khi ta kiếm tìm nữa. Cũng như thể, ta cứ nghĩ: mình cần thứ ân-huệ-cộng-thêm cho những gì hiện giờ ta chưa có. Nếu nghĩ thế, ắt cho huệ-lộc đây chỉ là thứ quà cáp Chúa tặng ban sau khi suy đi nghĩ lại, chứ không phải từ đầu. Không. Không phải thế. Huệ-lộc Chúa ban không là quà tặng vào giai đoạn cuối đời, mà là quà tặng Chúa cưu mang, ngay từ buổi đầu.

Huệ-lộc cũng không là thứ gì đó chẳng ai trông chờ. Không là món nợ Chúa còn thiếu, nên mới trả cho ta. Quà Chúa tặng, không là phần thưởng Chúa hứa hẹn cho người sống tốt lành, hạnh đạo, chỉ một ít. Huệ-lộc, là quà có sẵn bên trong bản thể con người. Là người, ta đã được tặng ban huệ-lộc “nhưng-không” ở phần thâm-sâu của bản thể; nhờ đó, ta được thấy Chúa, ngay từ đầu. Bản thể “người”, tự thân, đã hàm-ngụ thứ khả-năng được thấy Chúa ngay từ lúc đầu. Đây không là văn/thơ, kịch bản đầy diễn-xuất, nhưng lại là cung-cách Chúa tạo-dựng nên ta. Chúa thẩm-thấu vào chính bản-thể “người” của ta, ngay từ đầu.

Nói cách khác, không phải là ta khởi đầu tìm Chúa khi tìm kiếm huệ-lộc; nhưng, Chúa đã sở đắc và tặng ban huệ-lộc cho ta trước. Chính Ngài yêu thương ta trước. Nên, đó chính là lý do khiến hữu-thể-tạo-vật-là-ta không chỉ mới vừa xuất hiện hoặc đang trên đường tìm kiếm, nhưng đã hiện hữu trong Chúa; đã được tìm thấy trong Chúa. Chúa và hữu-thể-tạo-vật-là-ta ở trong nhau, và với nhau. Ta hiện hữu ở đây là để cảm-tạ Chúa, ngay từ đầu, Ngài đã kiếm tìm ta và thấy ta, trong Ngài. Tóm lại, chính Chúa tìm ta trước vì Ngài thương ta ngay từ đầu và Ngài đã có ta trong bản-thể cao cả của Ngài. Đó chính là chân lý. Đó, mới là điểm son trong quan hệ giữa Chúa và ta.

Trong cảm nghiệm mối tương-quan mật thiết ấy, cũng nên ngâm lời thơ còn bỏ dở:
                        
“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,”
“ta oặn mình trong những khổ tâm riêng.”
Em còn nhỏ làm sao mà biết được,
Đời buồn hiu như lá rụng, ban đêm.”
(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Viết đâu thì viết, đời người đâu nào đã buồn hiu vì lá rụng ban đêm. Đời người/đời ta vẫn không buồn dù ngày hay đêm, một khi đã biết và hiểu rằng Chúa đã có ta và ta đang ở trong Chúa, rất mừng vui.

Lm Kevin O’Sheas biên soạn – Mai Tá lược dịch