Sunday, 30 January 2011
“Chúng con ngoại đạo hay ngoan đạo"
Saturday, 29 January 2011
Saturday, 15 January 2011
“Hãy tự huỷ đêm nay vào dĩ vãng,
Suy niệm Chúa Nhật thứ 3 thường niên năm A 23.01.2011
“Xuất thần cho tận nhập với hư vô.”
(dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)
Mt 4: 12-23
Hãy tự hủy, nhà thơ nay đòi đi vào dĩ vãng. Đã xuất thần, nhà Đạo rày “tận nhập với hư vô”. Hư vô hay dĩ vãng, người người vẫn cứ suy và cứ nghĩ về những gì thánh sử đưa ra, mà quả quyết. Quyết, đón nhận điều Chúa dạy, suốt nhiều năm.
Điều Chúa dạy, thánh Mát-thêu đã ghi lại để ta suy và nghĩ. Trước nhất, là nghĩ và suy về sự kiện Chúa rời bỏ thôn làng Nadarét để về với cộng đoàn ngôn sứ, trong đó có Gioan Tiền Hô. Và, trình thuật hôm nay ghi lại: thánh Gioan nói cho mọi người biết Đức Giêsu là Đấng tràn đầy Thần Khí. Ngài, là Ngôn sứ Tối Cao, được liệt cùng hàng với Êlya và các ngôn sứ thời Cựu Ước.
Là ngôn sứ, Chúa quả quyết về thực trạng của thế giới đã mãn thời. Để rồi, khởi đầu một thể trạng mới có đổi thay. Thể trạng ấy, là Vương Quốc Nước Trời Ngài tạo dựng. Và, Ngài đến kêu mời dân con nhà Đạo hãy đi vào với thế giới ấy. Ai đồng thuận, Ngài ra tay giúp đỡ để họ thực hiện. Ngài còn mời gọi mọi người đổi thay thái độ phải có, với cuộc sống. Bởi, Nước Trời sẽ kịp đến rất nhanh. Nếu không thay đổi, e rằng họ luột mất cơ hội ngàn năm một thuở ấy.
Vào thời đó, đa phần người Do thái là dân con bình thường ở huyện, bởi họ không tham gia nhóm hội nào đặc biệt để có địa vị trong xã hội. Họ cũng không tham gia nhóm hội kiểu Essênô hoặc Pharisêu. Là dân con bình thường, họ chỉ tin vào những gì là căn bản. Tin, một Chúa là Đấng Có. Và, Chúa tuyển chọn dân con Ngài theo cung cách đặc biệt. Tin, vào Đức Chúa luôn ban cho dân con của Ngài bộ luật Tôra làm Đường Lối để mọi người sống. Và, cũng tin rằng, người Do thái hãy phụng thờ Ngài ngay tại đền thờ ở Giêrusalem.
Nay, chính Chúa diễn giải lại luật Tôra. Ngài dạy dân con mọi người cách sống như Ngài muốn. Sống giản đơn như đời thường. Cung cách sống, là qui định cơ bản để mọi người sống cho tử tế. Sống đời tử tế mà dân nghèo thị thành khả dĩ theo được. Ngài mạc khải cho dân con theo Ngài đường lối sống tốt đẹp, như những vần thơ vui Ngài sáng tác, mỗi ngày. Sáng tác thơ, để người người dùng đó mà ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa. Để cho họ, dù ở nơi xa xôi không đến được Đền thờ, vẫn có thể sống như Ngài khuyên bảo.
Ngài còn dạy dân con mọi người và khuyến khích họ sống thành nhóm hội cộng đoàn, tụ tập chung quanh Ngài. Quây quần thành vòng tròn lớn đến độ có thể đếm được đến ba vòng cùng tâm điểm trong cùng nhóm. Người ở xa cũng nghe biết, nên đã tin vào Lời Ngài dạy, để được sống. Sống tại nhà. Sống ở phương xa. Đâu đâu họ cũng vẫn được Ngài chăn dắt. Gần Ngài hơn cả, là nhóm đồ đệ thân yêu từng bỏ nhà cửa chốn riêng tư, mà theo Ngài. Ai theo Ngài, cũng gặp nhiều nguy nan từ giới có thẩm quyền vì không ưa Ngài, nên vẫn lùng tìm đồ đệ Ngài, mà bức bách. Đồ đệ Ngài tập hợp chẵn đủ những 12 vị.
12, là con số tượng trưng toàn bộ chi tộc Israel, lúc khởi đầu. Dần về sau, trong số này chỉ còn mỗi chi tộc Giuđa và Benjamin, mà thôi. Thực tế cho thấy, Chúa gầy dựng đủ 12 môn đồ, là để tỏ rõ một hành xử mang cung cách của ngôn sứ. Nghĩa là, Israel phải hoàn toàn đổi mới để sống cuộc sống Nước Trời đang dần đến. Bởi lẽ, Nước Trời là mục tiêu Ngài nhằm thực hiện bằng được. Sử sách nay còn ghi tên tuổi đầy đủ 12 vị tông đồ, như ta biết.
Cũng từ nhóm Mười Hai, Hội thánh Chúa được thiết lập theo cùng một cách thức, nên đã tồn tại mãi đến bây giờ. Nói cách khác, chính Chúa đã định trước cơ cấu của Hội thánh để trở thành một thánh hội như ngày hôm nay. Và Ngài vẫn muốn Hội thánh của Ngài sống theo đường lối Ngài qui định. Nghĩa là, Hội thánh phải trở thành chính đường lối mà lịch sử thánh đà ghi lại. Vì thế nên, Hội thánh cũng có những giây phút thăng trầm như lịch sử ở đời thường.
Thăng trầm lịch sử thánh, bắt đầu từ thời thánh Gioan Tiền Hô qui tụ rất đông người dấn bước theo chân thánh nhân. Bước thăng trầm của Hội thánh, còn được thánh Gioan Tiền Hô nhắc đến bằng lời kêu gọi mọi người hãy sống khiêm nhu để chứng tỏ mình là đồ đệ Chúa. Ngay vào lúc nổi tiếng nhất thời đó, thánh nhân cũng đề cập đến tính khiêm nhu của chính mình bằng tuyên bố để đời: “Đến sau tôi, là Đấng quyền thế hơn tôi. Và, tôi không đáng xách dép cho Ngài.” (Mt 3: 11)
Với thánh nhân, Đức Giêsu là Đấng mọi người tìm đến, để đi theo (Mt 4: 23). Ngài đến để cứu họ. Ngài được Cha chọn để thực hiện công trình cứu độ Cha trao phó. Nơi Ngài, Thần Khí Chúa không chỉ mỗi đến mà thôi, nhưng sẽ ở lại mãi nơi Ngài.
Chính Ngài là Đấng đã trầm mình mọi người trong Thần Khí Chúa. Chính Ngài là Đấng đã tặng ban Thần Khí Chúa đến với họ. Để, họ trở thành con cái đích thực của Chúa. Để, họ được tràn đầy năng lượng của Ngài. Trở thành, những người con được tiếp ứng bằng thứ điện quyền năng do Chúa ban, ngõ hầu chính họ biến đổi được thế giới thành chốn tốt đẹp. Cho mọi người. Nhờ đó, họ trở nên thánh hội của Chúa, ngay từ đầu.
Trình thuật hôm nay, thánh Mát-thêu kể cho mọi người biết Đức Giêsu là Đấng chữa lành mọi người. Ngài đến để rao báo với mọi người là Nước Trời đã gần kề. Ngài đến, còn để chữa lành đủ mọi hình thái của bệnh tật. Và, mọi người đến với Ngài trước nhất để được chữa. Càng gần Ngài, người người càng thấy mình được Ngài chữa lành nhiều hơn. Được chữa lành rồi, người người sẽ sẵn sàng mà sống cùng và sống với con cái Ngài, ở Nước Trời.
Với thánh Mát-thêu, Hội thánh là nơi mọi người tìm đến hầu được an bình, lành lặn. Được Ngài chữa chạy đủ mọi tật bệnh, dù rất khó. Hội thánh, chính là Nước Trời luôn mở rộng vòng tay đón nhận dân con ở khắp nơi. Bất kể họ thuộc nguồn gốc, văn hoá. Sắc tộc. Phái tính. Hoặc, tuổi tác nào.
Là Nước Trời ở trần gian, Hội thánh là nơi chốn đích thực mọi người lui tới. Lui tới, không chỉ để được chữa lành thôi, mà còn để tiếp tục công trình cứu độ Chúa giao phó. Công trình đó, Chúa tặng ban cho tất cả mọi người. Công trình đó, Chúa ủy thác để mọi người cứ thế mà thực hiện. Thực hiện, bằng tình thương Ngài loan truyền. Thực hiện, nhờ Thần Khí Chúa ở cùng và ở với mỗi người.
Thực hiện tình thương ở Nước Trời không là ân huệ Chúa ban cho, mà là bổn phận khiến ta trải rộng đến với mọi người, trong cũng như ngoài Hội thánh. Trải rộng, như tâm tình mà nhà thơ từng nói đến:
“Một chút kỳ hương ta gửi đó
Hồn ta đã ta vào hơi gió
Tháng sáu mười hai rồi, em nhớ hay quên.”
(Vũ Hoàng Chương – Bài Ca Hoài Tố)
Kỳ hương nhà thơ gửi, là hương kỳ của tình thương ta vẫn có. Kỳ hương ấy, là thương yêu mọi người cần có. Cần trao cho hết dân gian, ở mọi thời. Nơi Nước trời.
Lm nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá luợc dịch
Friday, 7 January 2011
“Tiếng hỏi tiếng chào vang lối xóm,”
Suy niệm Chúa Nhật thứ 2 Thường niên năm A 16.01.2011
“Pháo từng chiếc một, đốt liền tay.”
(dẫn từ thơ Lưu Trọng Lư)
Ga 1: 29-34
Có chào hỏi, chắc cũng chẳng đến độ vang lối xóm. Có đốt pháo, chắc cũng chẳng đốt liền tay, đến từng tràng. Lời chào hay tiếng pháo, có vang vọng dân gian chốn người về, cũng chỉ để nghe thánh Gioan giảng. Giảng về Chúa, là giảng về tình huống của Hội thánh thuở ban đầu.
Thuở đầu đời Giáo Hội, các thánh sử ghi nhiều điều lúc thánh Gioan Tiền Hô quả quyết: “Sẽ đến sau, một người đã vượt trước tôi, vì Ngài đã có trước tôi.” (Ga 1: 30) Vượt trước và có trước, bởi Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Nơi Ngài, Thần Khí Chúa rất tràn đầy. Và, chính Ngài là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.” (Ga 1: 19). Chính Ngài đem bình an đến với mọi người.
“Trần gian” đây, không có nghĩa là vũ trụ bao la. Là, toàn thể nhân loại. Trần gian đây, chỉ là: “thế gian này”. Thế gian, đối chọi với “thế giới đang đến”, hoặc “thế giới lẽ đáng ra phải thế!”. Tức, một thế giới dẫy đầy những cảnh chính trị và xã hội, nơi ta sống. Một thế giới, chuyên dụ dỗ ta về sống kiểu phàm tục. Nhiều lỗi phạm.
“Trần gian” thường lại có nghĩa đoàn kết/tập họp những con người chăm lo chống trả lối sống quái gở của thế giới. Một thế giới chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa, Đấng có thực. Thế nên, ta vẫn thấy động thái vô luật, thiếu cẩn trọng vẫn nằm đó. Ta còn thấy cả động thái tập trung vào chính mình, ở trong đó. Vẫn gần gũi với người đời, còn trong đó.
Thay vì gọi “xoá tội trần gian”, đề nghị bà con dùng cụm từ “lý lẽ sự dữ”. Lý lẽ đây, là đường lối suy tư hành động, luôn tiếp diễn. Cứ hết điều này lại đến chuyện khác. Như đứa trẻ hay nói dối. Dù, em biết mình làm điều ấy là không phải. Không nên. Nhưng em không nhận lỗi, lại cứ đổ cho người khác. Làm như thế, tức: em đã nói dối cả với chính mình. Làm như thế, em lại sáng chế tìm ra kiểu nói dối khác, cốt để che đậy cho lời nói dối trước đó. Em thật tình chẳng muốn cha mẹ biết điều này.
Với người lớn, việc này còn tệ hơn. Người lớn nói dối sẽ làm cho chính mình ra mù quáng. Nhượng bộ chính mình được một lần, sẽ lại dẫn đến hành động khác, còn tệ hơn. Quyền lực của “lý lẽ sự xấu” trong chuyện nói dối còn lớn hơn cả chính cá nhân mình. Lý lẽ của sự xấu, là lý lẽ chuyên che đậy. Kinh thánh mô tả việc này bằng từ ngữ “đầu mục của quỷ” (Mt 9: 34). Bằng tên gọi “Satan”, bên tiếng Do thái cốt để chỉ một nghịch ngạo (Mt 4: 10). Còn, “Ma quỉ” bên tiếng Hy Lạp, lại chỉ về sức mạnh cốt để rẽ chia. Phân cách.
Lý lẽ sự xấu của thế gian, còn gọi là thế giới, luôn mang tính huỷ diệt. Hủy và diệt toàn thể nhân loại. Thành thử, cộng đoàn Hội thánh có bổn phận phải đề cao cảnh giác trước những thế lực thù địch ấy. Và làm như thế, sẽ tự thay thế bằng những lý lẽ giúp mình sống thực. Sống, điều Chúa khuyên bảo.
Lý lẽ sống động để thay thế cho “lý lẽ sự xấu”, là lý lẽ của “Tình thương”. Là, động thái đối xử tốt với nhau. Động thái, không chỉ mang tính dung nhượng. Dù, khẳng định rằng mình có khác biệt. Nhưng, nhất định không làm đổ vỡ đường ranh giữa ta và người. Vì, một đổ vỡ như thế dễ đưa đến việc lạm dụng người khác. Muốn người khác làm đúng theo ý mình. Nếu không, mình sẽ không từ nan một động thái nào hết, kể cả bức ép họ để họ không còn khác biệt với ta nữa.
Lý lẽ của tình thương, là ra đi mà gặp gỡ. Gặp gỡ tha nhân với tư cách là tha nhân. Tức: vẫn giữ được sự khác biệt giữa ta và tha nhân. Ra đi, khuyến khích tha nhân sống đúng đường lối mà họ từng quyết định. Sống, theo cung cách mà họ vẫn muốn. Chứ không phải sống giống như ta. Mà là, với ta. Với, tức là: sống chung cùng ta, nhưng không che đậy/khoả lấp những khác biệt giữa ta và họ.
Thật ra, điều đó cũng chẳng là “lý lẽ”. Mà là, Thần Khí. Là, bầu khí. Thánh Gioan Tiền Hô làm nổi bật điều này, khi thánh nhân nói về Đức Giêsu, tức bảo rằng: Thần Khí không chỉ đến mà thôi. Nhưng, sẽ lưu lại mãi nơi Ngài. Và thánh nhân còn bảo: Đức Giêsu sẽ làm cho mọi người dầm mình vào với Thần Khí ấy. Ngài trao tặng Thần Khí ấy cho mọi người để rồi mọi người trở nên sống có Thần Khí. Có, lý lẽ của Chúa. Tức, đầy tràn năng lực của Đức Chúa.
Và một khi, những người được đánh động bằng quyền năng/sức mạnh của Thiên Chúa cũng sẽ ra đi biến đổi thế giới với thế gian để họ trở thành nơi chốn bình an, hạnh phúc đối với người bình thường. Và khi thánh Gioan Tiền Hô nói: Đức Giêsu là Đấng xoá tội trần gian, tức: xoá đi cái lý lẽ của dối gian, khoả lấp. Để rồi, Ngài ban Thần Khí, tức lý lẽ của Tình Thương và sự khẳng định về một khác biệt với người khác.
Chính vì thế, thánh Gioan mới gọi Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”. Điều này khiến mọi người nhớ đến Chiên Vượt Qua. Đến, chiên con thầm lặng đi vào lò, làm của lễ. Và, điều này cũng làm ta nhớ lại chiên con ngày Cánh Chung. Ngày, mà mọi người được nhận vinh quang và danh dự, từ Đức Chúa.
Ảnh hình về “chiên con”, còn là ảnh hình về sự tử tế. Thứ tử tế cần có để sống đúng “lý lẽ của Tình Thương”. Chính đó, mới là Đạo Chúa. Chính đó, là ý nghĩa của thanh tẩy. Thanh tẩy được định ra là để biến đổi chúng ta thành những con người như thế. Thanh tẩy, để đánh đổ tầm nhìn về thế giới. Với thế gian. Đánh đổ, hầu biến đổi cả chúng ta lẫn thế giới của ta, nữa. Lẽ ra là như thế.
Hiện nay ta đang sống như thể đang ở trên đường giây giằng co/sai sót giữa hai dĩa kiến tạo khác nhau: một là lý lẽ của dốt trá, khoả lấp. Và dĩa kia, là lý lẽ của tình thương và sự thật. Dân chúng trên toàn quốc và toàn thế giới không biết làm cách nào để nhảy. Không phải là họ không có tình thương. Nhưng, vì họ bị thúc bách phải làm điều gian dối. Phải khoả lấp che đậy cả bản năng yêu thương của chính họ. Có lẽ tuyệt đại quần chúng vẫn cứ thinh lặng. Vẫn luồn lọt để tránh thoát. Vẫn muốn trở thành điều mình cần trở thành. Tức, sống tử tế vẫn còn đó ở trong ta. Nên, ta vẫn cần đến Đức Chúa và những người giống như Ngài, để rồi sẽ chuyển đổi được thế giới. Thế gian.
Mỗi lần đón nhận Mình Chúa, nơi Tiệc Thánh, là ta đã nguyện cầu việc ấy được diễn ra. Chiên Thiên Chúa, Đấng cất đi “lý lẽ sự xấu” để ta sống tử tế với người khác. Chiên Thiên Chúa, Đấng cất đi “lý lẽ của dối trá”, để ta sống trung thực với mọi người. Chiên Thiên Chúa, Đấng cất đi lý lẽ của che đậy, khoả lấp, nhượng bộ, để ta sống hiền hoà với chính mình. Với mọi người.
Lạy Chúa, con nào đáng được thế. Nhưng, xin Ngài hãy phán một lời tặng ban ân huệ, tức khắc hồn con sẽ lành lặn. Chúng con ngợi khen, chúc tụng tạ ơn Chúa suốt cuộc đời.
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá lược dịch