Monday, 17 March 2008

“Chôn chết yêu đương đến tận giờ”

Yêu đương sống lại Con Người ấy

Lại thấy đời tươi tựa nắng vàng...

Gặp gỡ, hẳn duyên trời định trước!

(dẫn nhập từ thơ Nguyễn Bính)

(Ga 20: 1-18)

Duyên Trời - Tình Chúa, đã chôn sâu đến ba ngày. Yêu Đương – Thống Khổ, Chúa vùng dậy với nhân gian. Nhân gian hôm nay, tìm lại được niềm tin bắt rễ nơi lòng người. Tìm ra ý nghĩa sự sống và sự sống lại, nơi Đức Kitô.

Đức Kitô sống lại, làm nền tảng cho niềm tin vùng dậy, từ cõi chết. Như thánh Phao-lô từng xác định, khi ngài có thư gửi cộng đoàn Cô-lô-sê, hôm trước: “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì niềm tin của ta ra hư luống.” (Co 3: 1-4).

Nhận ra ý nghĩa xác thực Lễ Phục Sinh, tín hữu chúng ta đều hiểu: thập giá bỏ trống, không có Đức Giê-su trên đó, là tụ điểm đưa ta về gần Chúa. Thập giá trống, tức Chúa đã tuân thủ hiến mình dâng Cha. Ngài tận hiến vì con người. Không còn đó, Ngài về cùng Cha bước vào sự sống mới.

Thập giá bỏ trống, không có Chúa, tức: Chúa đã sống lại thật rồi. Có sống lại, Ngài mới lôi kéo đem con người về với vinh quang, có Cha ở cùng. Về với Phục Sinh, người người mới san sẻ kinh nghiệm khổ đau và vinh hiển. Kinh nghiệm thánh ấy, không phải để tưởng nhớ việc Chúa lại bừng sống mà thôi, nhưng còn đem cho ta ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Ý nghĩa Phục Sinh, mời ta đổi mới con người mình. Đổi từ gốc, như môn đệ Chúa đã đổi và đã trở thành những người, rất mới. Luôn có Cha.

Chủ đề phụng vụ hôm nay, gồm việc rao truyền lẫn làm chứng tá cho Lời Chúa, đã Phục Sinh.

Bài đọc thứ nhất, thánh Phê-rô đề cập đến kinh nghiệm từng trải mọi môn đệ Chúa đã kinh qua. Kinh nghiệm từng trải, là cuộc sống thực tế có tương quan mật thiết với Đức Chúa đã sống lại. Cũng với tương quan này, thánh Phê-rô tuyên tín: Đức Giê-su chết trên thập giá, nay Ngài đã cùng sống với mọi người.

Bài đọc thứ hai, cũng mang một ý nghĩa tương tự. Thánh Phao-lô, lúc trước là một Pha-ri-sêu tận tụy và chính trực, từng bức bách nhiều đồng đạo Đức Kitô vì ngỡ rằng họ sai quấy, không giữ luật Chúa theo quan niệm người Do Thái. Gặp Chúa, thánh nhân đã đổi mới toàn bộ con người mình. Đã có cái nhìn chính đáng hơn, về mọi sự. Đặc biệt nhất, thánh nhân đã hiểu rõ ý nghĩa của sự sống và thông điệp Chúa gửi, qua sự kiện Chúa Sống Lại. Rồi từ đó, thánh nhân tận lực giúp đỡ mọi người biết thương yêu, dõi bước theo Ngài.

Bài trình thuật, đề cập đến kinh nghiệm về mồ trống và Phục Sinh, đồ đệ Chúa có dịp đã làm chứng. Kinh nghiệm Phục Sinh, là kinh nghiệm bằng mắt thịt THẤY Chúa chết thật, trên thập giá. Là, bằng cặp mắt đức tin BIẾT rằng Ngài nay đã Phục Sinh. Thấy và biết Ngài Phục Sinh, không bằng giác quan thân xác, nhưng bằng niềm tin và yêu. Bởi, Chúa chấp nhận nỗi chết thập giá, là sự kiện rất lịch sử. Nhưng, Ngài Phục Sinh vinh hiển là sự kiện, rất đáng tin. Tin rằng: nay Sống Lại, Ngài đã về với cuộc sống, theo cách mới.

Văn kiện kinh thánh thời hậu-Phục Sinh cho thấy: lúc đầu, đồ đệ Chúa không nhận ra thân xác phục sinh của Ngài. Nhưng, khi đã Phục Sinh, Ngài hiện diện sống khắp nơi nơi. Và, đồ đệ chúng ta nay cũng được dạy phải hiện diện giống như thế. Thành thử, sống cuộc sống đã Phục sinh, tức là sống với trạng thái Chúa hiện diện với mình. Sống Phục sinh, tức nay đang sống trong yêu thương thân tình, được vực dậy. Sống Phục Sinh, tức cộng đoàn ta nay trở thành Mình Chúa, được vực dậy để sống, có đổi thay.

Vì thế, ở đoạn kế tiếp, thánh Gio-an ghi thêm chi tiết, bảo rằng: chính thánh Phê-rô và người “môn đệ Chúa yêu” đã về báo cho anh em điều mình phát hiện. Đặc biệt hơn cả, là phát giác của Ma-ri-a Mác-đa-la cứ đăm đăm nhìn Chúa, nhưng không THẤY. Nhìn Thầy của mình, nhưng chị cứ ngỡ người-làm-vườn này đã đem Thầy đi nơi khác.

Trình thuật thánh Gio-an ghi hôm nay, đề cập đến chữ “vườn”, là nơi chôn cất Chúa. Khi xưa, “Vườn” là nơi A-đam Cũ đã lỗi phạm. Nay, cũng ở nơi “vườn” Đức Chúa Phục Sinh, đã khởi đầu công trình Cứu Độ. Công trình do A-Đam Mới thực hiện. Và, cũng trong trình thuật khi “Người-làm-vườn-Ban-Ơn-Cứu-Độ” gọi đích danh tên mình, Ma-ri-a Mác-đa-la mới nhận ra Thầy. Và, từ “vườn” Phục Sinh, Ma-ri-a Mác-đa-la về báo cho các môn đệ Chúa, chi tiết: “Tôi đã THẤY Chúa” (Ga 20: 18).

Xem thế, THẤY và BIẾT Chúa là hai động tác, nhưng cùng một kinh nghiệm. Kinh nghiệm rằng: chỉ thật sự BIẾT được Chúa Sống Lại, nếu ta quyết tâm đổi mới chính mình. Không đổi mới, không thể nói mình thật sự tin Chúa sống lại. Ngay Ma-ri-a Mác-đa-la, người nữ phụ theo chân Thầy Chí Thánh chỉ có kinh nghiệm THẤY và BIẾT Thầy Sống Lại, khi chị đổi mới hoàn toàn thân mình đầy lỗi phạm, khi trước. Cũng thế, ta chỉ THẤY và NHẬN BIẾT được Chúa nơi môn đồ đã đổi mới của Chúa. Và, chỉ những người thực sự đã đổi mới, mới có thể gọi mình là đồ đệ, bước theo chân Thầy, mà thôi .

Thánh Phao-lô đã xác định thêm chuyện này, khi thánh nhân có thư gửi đến cộng đoàn Cô-rin-thô, và bảo: “Anh em hãy loại bỏ men cũ đi mà trở thành bột mới.” Men và bột, đã được vực dậy. Đã sống lại. Cùng chiều hướng tương tự, thánh Phê-rô nhấn mạnh ở bài đọc thứ nhất: điều quan trọng với đồ đệ Đức Giê-su không chỉ là kinh nghiệm và vui hưởng niềm hạnh phúc có Chúa sống lại, mà thôi. Nhưng, còn phải chia sẻ kinh nghiệm và niềm vui chung ấy với nhiều người. Chia sẻ bằng cách rao truyền và làm chứng cho Chúa đã sống lại (Cv 10: 42-43).

Và, thánh Phê-rô đại diện Hội thánh hôm nay kêu gọi con dân Đức Chúa hãy triệt để đổi mới chính mình. Đổi, tận thâm căn. Đổi, như người Do Thái đã đổi bằng biểu tượng vứt bỏ bánh có men để chỉ giữ lại bánh không men, đã vực dậy. Đã đổi mới.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, ta hãy dùng dây đo thước đạc mà đo lường chính mình. Đo và lường, không theo kiểu người tín hữu khi xưa, nhưng như người con bình thường, ở trần thế. Đo và lường, là tháp nhập vào cách thức Đức Giê-su đã thực hiện. Cách của Sự Thật và Sự Sống. Tức, tái lập tương quan mật thiết với Chúa. Với tất cả những người anh người chị, của chúng ta. Nơi cộng đoàn ta đang sống. Tức, đem công bình, tự do và an vui đến với mọi người. Với thế giới hiện tại.

Trong tinh thần đo và lường lòng mình để trở nên một với Đức Kitô Phục Sinh, ta cứ vui mà hát với người nghệ sĩ hôm nay:

Rồi cuộc vui tàn, mọi người bước đi

một mình tôi về, nhiều lần ướt mi

chờ tình yêu đến trong ánh nắng mai

xóa tan màn đêm u tối

cho tôi biến đổi tâm hồn

thành một người mới.. (Và Con Tim Đã Vui Trở Lại… Đức Huy)

Con tim nhà nghệ sĩ, tim mọi người nay vui trở lại. Vui, vì màn đêm được tan xoá. Vì, tâm hồn người anh người chị, và chúng ta đã biến đổi thành người mới. Những người đã thấy “đời tươi vui tựa nắng vàng”.

__________________Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá từ Úc diễn dịch.

(xem thêm bài cũ xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com)


Monday, 10 March 2008

“Khơi kỷ niệm tìm hương thơm mùa cũ”

Nghe rất nhẹ mơ hồ như sương phủ
Gót nai về ủ rũ dưới thông cao
Lại chạnh lòng chợt nhớ đến thu nào
Anh gần gũi giữa vòng tay trìu mến

(dẫn nhập từ thơ Hồ Công Tâm)

Mt 26: 14, 27: 66

Khung trời kỷ niệm mà nhà thơ khơi lại, có lẽ cũng là kỷ niệm mà người dân đi Đạo vẫn có vào buổi phụng vụ Vượt Qua, hôm nay. Khơi lại kỷ niệm, là khơi mào tình thương yêu mến mộ Chúa đã ban, ghi rõ ở trình thuật.

Trình thuật ghi hôm nay, diễn tả tình thương Chúa gửi đến với mọi người con yêu dấu, ở trần gian. Tình thương đó, là đặc ân cứu độ ta có được qua mầu nhiệm thống khổ. Qua nỗi chết và sự phục sinh của Đức Chúa. Phục sinh cứu độ, đã giải thoát mọi người. Giải thoát chúng ta.

Qua cử hành tuần lễ thánh, Giáo Hội không chỉ “khơi kỷ niệm” cứu độ Ngài thực hiện, thôi. Nhưng, còn giúp ta đồng hành với Chúa. Đồng hành để ta cùng vào quỹ đạo tình thương. Vào cuộc sống. Ở nơi đó, có tình tự bi-ai, sầu-buồn ta từng trải trong cuộc sống. Sống với Chúa. Với mọi người.

Phụng vụ hôm nay, trổi bật lên hai sự kiện đan kết nhau trong cùng một nghi thức. Phần đầu nghi thức, cử hành việc Chúa chiến thắng nỗi sầu-buồn, với không khí tưng bừng ngày mừng lễ. Qua cử hành, ta sẽ cùng với Đức Kitô tay cầm tàu lá, miệng hát vang rền lời tung hô chúc tụng. Và, hiên ngang tiến vào đền thánh Giê-ru-sa-lem. Đầu cao mắt sáng, nhưng không cao ngạo như vua quan lãnh chúa, ở ngoài đời. Hiên ngang vào cung điện bàn thờ, linh mục chủ tế mặc hồng bào khởi đầu cuộc khổ nạn xưa, Chúa vui nhận.

Khổ nạn Chúa vui nhận, gồm hai yếu tố đích thực. Thứ nhất: vào giai đoạn đầu tiến trình Vượt Qua, tình hình ở Do Thái rất sôi sục. Nhà cầm quyền khi ấy, rất lo ngại về một nhen nhúm nổi dậy và kình chống khởi từ phía người Do Thái, do Đức Giê-su khởi xướng. Vốn những lo ngại, họ đành nhúng tay vào lĩnh vục tôn giáo, cốt trừ khử Đức Chúa khỏi hiện trường chính trị và xã hội, tránh hậu họa. Yếu tố thứ hai, là ý nghĩa của cuộc Vượt Qua mới, tức: công trình cứu độ, Ngài thực hiện ngang qua khổ đau thân xác. Khổ đau, không có nghĩa: Cha để mặc Ngài đi vào chỗ chết. Nhưng, khổ đau ở đây do chính Ngài đã tự ý lĩnh nhận cho đến chết. Hầu thực hiện thánh ý Cha.

Chấp nhận khổ đau, Đức Kitô tỏ bày tình yêu cao độ Ngài phú ban cho mọi người. Con dân yêu quý nơi nhà Đạo, lẫn kẻ thù ở ngoài. Tình thương Ngài ban, là gương sáng Ngài lĩnh nhận từ nơi Cha. Và, chính tình thương yêu cao cả, đã khiến Ngài hy sinh trọn cuộc sống, quyết thực hiện công trình cứu độ, đã đề ra.

Trình thuật khổ đau hôm nay, cho thấy Đức Kitô chấp nhận đặt mình vào hoàn cảnh rất “người”, giống mọi người. Chấp nhận như thế, Ngài đã chuyển tải ý nghĩa của tương quan Ngài vẫn có, đối với ta. Tương quan Ngài có, là thế này: chỉ bằng vào tin-yêu đích thực, ta mới nhận ra việc Chúa làm. Công việc Ngài làm, là biến ý định của Cha thành hiện thực qua kinh nghiệm khổ đau, rất người. Và, bằng vào chết nhục mà người phàm ở dưới thế không thể hình dung. Như, thánh Phao-lô quả quyết: “với người Do Thái, đây là cớ vấp phạm. Với kẻ không tin, đây là điều vô nghĩa lý.”

Trình thuật việc Chúa chấp nhận khổ đau và nỗi chết, là điều rất thích hợp và cũng rất thật. Thật đến như thế, mà nhiều người vẫn không tin. Cứ biện giải: là Chúa, sao Ngài cứ phải khổ đau? Nhiều người không tin Chúa đau khổ, vì vẫn chối bỏ lời Ngài, trong tân Ước. Rõ ràng, các thánh sử đã quả quyết: Thiên Chúa hạ giáng làm người, Ngài mặc lấy thân phận và tính chất rất “người”. Vì thế, Ngài chấp nhận khổ đau và nỗi chết, là để hoàn tất công trình Cha giao phó.

Là người, Đức Chúa nhận thức khổ đau hơn bất cứ ai. Đau khổ nhiều, khi đồ đệ bỏ đi để Ngài lại một mình, nơi vườn Dầu sầu thảm. Và, đau khổ đến tột đỉnh, khi Cha dường như cũng làm thinh. Với bản chất rất “người” của Ngài, Đức Giê-su dốc tàn hơi nói lời cuối của Người Con có bản chất rất “Chúa”: “Lạy Cha! Lạy Cha! sao Cha nỡ bỏ con?”(Mc 15: 34). Thốt lên lời cuối, Chúa công khai tỏ bầy một sự thật: nay, đã hoàn tất công trình cứu độ, Cha trao phó.

Mặc lấy tính “người” cho đến chết, Đức Giê-su vẫn có tư cách, quyền uy và thế lực, của người thường. Quyền uy Ngài rất chói sáng, suốt một đời. Chói sáng đến độ, binh đội bắt Ngài, đã phải xử sự cách lạ lùng hệt như kẻ đến để bảo vệ. Và, dù đủ sức phản chống, Ngài vẫn ứng xử đúng theo tư cách của Đấng có uy và có quyền. Quyền uy đến độ, trước mặt quan án rất hùng hổ, Ngài vẫn lặng im không khuất phục. Không bị uy hiếp, lẫn khiếp sợ. Ngược lại, Ngài vẫn nguyện cầu và thứ tha cho kẻ gây sầu, quyết hại Ngài. Cuối cùng, chính lúc Ngài chết đi, là lúc Ngài giúp mọi người được vui sống.

Bài đọc thứ hai, thánh Phao-lô đã viết: “Chúa tự trút bỏ con người” của Ngài, cách hoàn toàn. Trút bỏ như thế, Ngài đã lấp đầy thân mình Ngài bằng Thần Khí của Cha. Trút bỏ như thế, Ngài không còn dính dự vào bất cứ gì. Và, để mặc cho vật chất tất cả trở thành hư vô. Đây chính là điều mà những người không có niềm tin-yêu mãnh liệt, không hiểu thấu.

Ở cuối trình thuật thống khổ, thánh Mát-thêu có ghi: “Đức Giê-su đã trút linh hồn” (Mt 27: 50). Thông thường, đây là lối nói diễn tả việc Ngài thở hơi cuối cùng. Nhưng, trong bối cảnh công trình cứu độ, điều này có nghĩa: sự sống, nỗi khổ và sự chết của Đức Giê-su, hiểu đúng cách, đã chiến thắng và chuyển quyền uy sức mạnh đến với thế giới nhân trần. Quyền uy ở đây, là sức mạnh của Thánh Thần Chúa vốn lấp đầy nơi thân mình Đức Giê-su, nay được chuyển cho hết mọi dân con đi theo Ngài.

Thừa hưởng uy quyền được Chúa ban, đồ đệ chúng ta cũng sẽ trải qua các kinh nghiệm như Thầy từng trải. Nghĩa là: cũng giống Thầy, ta sẽ chứng kiến nỗi khiếp sợ ban đầu. Nhưng, sẽ được tràn đầy quả cảm để không còn hãi sợ nữa. Không sợ, vì đã có niềm vui Thần Khí Chúa ở cùng. Và, dù có bị đưa đẩy vào chốn tù đày có giết chóc có hãm hại, đồ đệ Thầy là chúng ta cũng tồn tại. Sẽ tiếp tục rao truyền Lời Chúa, không khiếp sợ. Và, Sự Thật lâu nay vẫn chứng minh điều này.

Đau khổ và nỗi chết của Đức Giê-su ta mừng kính hôm nay, vẫn không là dấu vết của một gục ngã. Nhưng, chính là sự khải hoàn và chiến thắng như cuộc sống các đấng tử đạo và người chứng của Đức Chúa vẫn xác minh, suốt hơn 2000 năm.

Trong tinh thần háo hức bước vào tuần mừng Chúa chấp nhận khổ nạn, ta cũng đừng quá tập trung vào những sầu buồn khổ đau của Chúa. Bởi, làm như thế, có người lại coi đó như thú đau thương, thích khổ hình. Trong khi, đau thương và khổ hình chỉ đích thực mang nghĩa thích thú, khi chúng soi dọi và dẫn đến khổ đau và sống lại, của Đức Giê-su mà thôi.

Mặt khác, khổ đau con người, tuyệt nhiên không thể mang ý nghĩa của trừng phạt từ Đức Chúa. Thành thử, cũng đừng nên tìm đến khổ đau sầu buồn, để rồi than vãn hoặc công kích. Sự thật thì, khổ đau sầu buồn, vẫn là nguồn gốc dẫn đến mọi tốt lành vì chúng giúp ta trưởng thành hơn. Biết yêu thương, biết chăm sóc và có thiện cảm với những người buồn và khổ. Nói cách khác, khổ đau sầu buồn giúp ta trở nên giống Đức Kitô hơn. Giống, vì nó giúp giải thoát mọi người, trong chúng ta.

Trong tinh thần hiên ngang theo Chúa chấp nhận sầu buồn, ta hãy phấn khởi lên mà ca hát:

Thôi một giọt nước mắt này

Cho cuộc tình đam mê, cho người tình trăm năm,

Em về đan tóc lụa là

Kết từng chuỗi ngày buồn riêng mang

Anh đi về dấu giáo đường

Cho cuộc tình bay cao, cho lòng mình xôn xao

Em cuộn theo tháng ngày dài

Kiếp này trót gặp người cho buồn. (Ngô Thuỵ Miên – Giọt nước mắt ngà)

Vâng. Giọt nước mắt ngà, mà người anh người chị đang rơi vãi, chắc chắn sẽ không là giọt nước mắt cho Cha, cho Thầy Chí Thánh. Bởi hôm nay, mùa Vượt Qua rất khổ và rất đau, thì cũng đã qua rồi. Còn lại, là ngày rực sáng sống lại của công trình cứu độ Thầy cưu mang. Cho mỗi người và mọi người. Rất hôm nay.

__________________________Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá từ Úc diễn dịch.

Saturday, 1 March 2008

“Tình đã chết những mong tình sống lại”

Khi biết lòng anh như đã chết

Mây thôi hồng mà lá cũng thôi xanh.

Mầu hoa tươi cũng héo ở trên cành.

Và vũ trụ thấy một mầu đen tối.

(dẫn nhập từ thơ Thâm Tâm)

Ga 11: 1-45

Tình đã chết, nhưng tin chắc tình anh sẽ sống lại. Sống lại rồi, để tất cả sẽ vinh danh tình của Cha. Tình Chúa Cha, hôm nay được diễn bày thật rõ nét nơi trình thuật về anh La-za-rô. Trình thuật có sự chết. Có tình người sống lại.

Trình thuật hôm nay, là Tin Mừng về sự sống, nỗi chết và sự sống lại. Qui trình sống-chết, là qui trình không ngừng diễn tiến nơi mọi sinh vật, nơi trần thế. Nơi con người. Với muông thú, cùng cỏ cây.

Trình thuật hôm nay, thánh Gio-an viết khởi đầu bằng một khẩn báo, là: La-za-rô, người anh của Mác-ta và Ma-ri-a, bạn thiết thân với Đức Giê-su, nay đã mệt nhiều. Nghe anh mệt nhiều, nhưng Đức Giê-su vẫn cứ ngồi trầm tĩnh, rồi mới giải thích: La-za-rô dù mệt nhiều, nhưng nào đã đi dần vào cõi chết. Đây, là cơ hội để vinh quang Chúa được tỏ bày nơi mọi người. Vinh quang Chúa, nay thể hiện nơi Người Con Thân yêu của Cha. Vì thế, dù thương bạn đang mệt nhiều, Đức Giê-su vẫn bình thản. Trầm tĩnh. Những hai ngày sau, Ngài mới dạy: nào ta đi Giu-đê-a, đến thăm anh.

Thoạt nghe Ngài dạy bảo, các môn đồ liền cảnh báo ngay về những nguy hiểm, đang chờ Ngài. Đó là những đe doạ ném đá. Đe dọa ném đá, là vì các vị thủ lĩnh tôn giáo cứ kích động người dân đi Đạo nổi lên, quyết ám hại. Và đó cũng là lúc, ta có được câu nói để đời, từ Đức Chúa: “Phàm ai đi đứng vào lúc ban ngày, ắt sẽ không bị vấp ngã. Có vấp chăng, chỉ về đêm, khi không có ánh sáng ở với mình.” (Ga 11: 9-10). Bằng vào xác quyết này của Ngài đã ám chỉ: nay đã đến thời của sự sáng. Thời, mà mọi người không còn hãi sợ, dù có đe doạ bị ném đá. Hẳn ta còn nhớ, trước đó Đức Giê-su đã nhất mực tỏ bày: “Giờ Ta chưa đến”. Ngài tỏ bày nhiều lần, để mọi người không còn thôi thúc Ngài ra tay, không đúng lúc.

Nay đã đến thời của sự sáng, tức: thời của những đối đầu chung cục, khó mà tránh. Và, Đức Chúa: “Thầy đi đánh thức anh ấy đây!” (Ga 11: 11) Ở đây nữa, cũng như dân thường, môn đồ Chúa đã lẫn lộn giữa thức và ngủ. Thức – ngủ, ở đời thường. Thức - ngủ, tựa sự chết với sống lại. Thế nên, Chúa nói tiếp: “La-za-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy không có đó để anh em tin.” (Ga 11: 14-15). Thành thử, “nay đã đến thời của sự sáng”, còn là xác định về thời để “anh em tin”!

Với niềm tin sẵn có, em của La-za-rô là Mác-ta bèn thưa: “Có Thầy ở đây, em con đã không chết!” (Ga 11: 21). Lại nữa, cũng từ đây, hậu duệ chúng ta lại có thêm xác quyết để đời khác, từ Đức Chúa: “Thầy là sự sống và sự sống lại. Ai tin Thầy, dù có chết cũng sẽ được sống.”(Ga 11: 25).

Trọng tâm Lời Chúa hôm nay, nằm vào nhận định kiên vững mà Ngài vừa nói. Kiên định và vững chắc đến độ, nếu tiếp tục nghe, người người đều hiểu rõ lập trường của Đức Giê-su về sự chết và sự sống. Với Ngài, sự sống nay đã vượt quá mộ phần. Vượt cả lằn ranh sống - chết. Bởi từ nay, sự sống mới đã khởi đầu. Khởi đầu là khởi từ thái độ sống đối với những ai chấp nhận con Đường Ngài vạch ra.

Chấp nhận con đường sống, là có được thái độ như Mác-ta:“Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến với thế gian” (Ga 11: 26). Lời thân thưa của Mác-ta làm ta trở về nhớ lại mặc khải Chúa ban cho nhiều người, cả người nữ phụ thành Sa-ma-ri, cho chí người hành khất mù ở Ga-li-lê, vào độ trước. Mặc khải ấy, nay lại đã trao ban cho anh em nhà La-za-rô, đại diện dân con của Đức Chúa.

Và khi đó, Mác-ta đã nhận ra, rằng:”Thầy đến rồi!” (Ga 11: 28). Thầy đến rồi, là lời tuyên tín xuất từ tiếng Hy Lạp parousia, chỉ việc Đức Chúa quang lâm, nay hiện diện. Với thánh Gio-an, Thầy đến rồi! và Thầy vẫn đang hiện diện nơi sự sống không có kết đoạn. Việc này, thực sự khởi sắc từ lúc Đức Giê-su đi vào cuộc sống. Của mọi người. Nghe câu nói đó, người chị Ma-ri-a lại đã một lần nhắc khéo Đức Chúa: ”Thưa Thầy, nếu Thầy có ở đây, em con đã không chết!” (Ga 11; 32).

Nghe đến đây, hẳn người đọc nhận ra khía cạnh rất “người” của Đức Giê-su, khi Ngài bật lên thành tiếng lòng, đầy thổn thức. “Thổn thức trong lòng và xao xuyến”, là ngôn từ mà trình thuật hôm nay muốn chứng tỏ: Đức Giê-su, cũng như mọi người, Ngài cũng biết sầu buồn. Cũng cảm thông trước tình huống phàm trần của đàn con thân yêu, khi có người thân thuộc vừa ra đi. Nghĩa là, Ngài cũng cất bước đến mộ phần người bạn thân La-za-rô, để làm cử chỉ tỏ bày tình thân; và để thông truyền một sứ điệp.

Nơi mộ phần đục sâu những đá tảng, Đức Giê-su đã trấn an thân thuộc người quá vãng, bằng một khẳng định: “Thầy há đã chẳng nói: nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Và, sự việc tiếp diễn là để mọi người được thấy vinh quang Đức Chúa, ở với Ngài.

Toàn bộ trình thuật hôm nay, cần đọc và hiểu như một ngụ ngôn Chúa muốn kể: Đức Giê-su chính là Đức Kitô mà mọi người trông đợi. Việc La-za-rô sống lại từ cõi chết, không chỉ vực dậy thân xác con người vừa chết đi, nhưng còn là biểu trưng một cách hùng hồn về cuộc sống mới. Cuộc sống, mà mọi dân con nhà Đạo có lẽ sẽ từng trải. Là, khi tất cả đặt mình nơi quyền uy sức mạnh của Đức Giê-su là Đức Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta. Mọi người sẽ trỗi dậy từ việc chết đi cho những lầm lỡ/lỗi phạm, để rồi đến với sự sống, thấm nhuần tình yêu thương Thiên Chúa.

La-za-rô bước khỏi mộ phần, khiến ta nhớ lại lời lẽ thánh Phao-lô mô tả phép thanh tẩy thời Hội thánh tiên khởi. Vào thời đó, người chịu thanh tẩy đều ở bên hồ, cởi bỏ lớp áo trên người, bước sâu vào giòng nước, tượng trưng chấp nhận chết đi cho lỗi lầm mình mắc phạm, thời đã qua. Cũng giống như Đức Kitô Giêsu vào với sự chết, mang theo Ngài là toàn bộ lỗi phạm của ta. Để rồi, khi lên khỏi mặt nước, (ở đây, phản ảnh việc Đức Giê-su rời bỏ mộ phần), mặc áo tinh trong tượng trưng cho cuộc sống mới, có Chúa ở cùng.

Bằng vào trình thuật hôm nay, thánh Gio-an đưa ta về với bối cảnh Nhiệm tích Vượt Qua. Vào dịp đó, ta cử hành mừng kính tình yêu thương Chúa đã tỏ lộ cho ta, qua mọi sầu buồn khổ đau. Qua sự chết. Và rồi, đạt sự sống lại của Đức Chúa. Kể như thế, thánh Gio-an cũng đưa người đọc về với bối cảnh các dự tòng thời tiên khởi chuẩn bị lĩnh nhận ơn thanh tẩy, đêm Phục Sinh. Kể như thế, còn để giúp ta chuẩn bị mà khởi đầu cuộc sống đích thực với ơn thanh tẩy, ta nhận lĩnh.

Trong thông cảm cuộc Vượt qua thống khổ nhưng hy vọng, ta sẽ hát lời ca ý nghĩa, sau đây:

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi anh?

Em đi tìm mùa xuân trên đời

Mùa đông chết đi rồi mùa xuân

Mắt ta đẹp trời sao

Cho tình mình thương nhớ nhau (Từ Công Phụng – Bây giờ tháng mấy)

Vâng. Đã chết rồi mùa đông đầy lỗi phạm, những giá băng. Để rồi, ta đi vào mùa xuân có thương và có nhớ. Nhớ rằng: tình đã chết nhưng vẫn mong tình sống lại. Sống lại với Chúa. Với mọi người.

_____________Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá từ Úc diễn dịch