Saturday, 11 April 2015

“Lời nguyện trôi theo mái tóc dài,”



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ III Phục Sinh năm B 19/4/2015

           Tin Mừng (Lc 24: 35-48)
Bấy giờ, hai môn đệ từ Emmau trở về, thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh. Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo:

"Bình an cho anh em!" Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: "Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?" Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: "Ở đây anh em có gì ăn không?" Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông.

Rồi Người bảo: "Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng-nghiệm." Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Người nói:"Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đức Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này.”

 “Lời nguyện trôi theo mái tóc dài,”
Cầu cho hoa lá thoát phàm thai.
Hồn lên vầng trán mây kềm toả,
Hình tượng nào đây? Thể xác ai?”
(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Nhiều lúc, người đọc sách thánh đã cắt ngắn truyện Tin Mừng một cách quá sớm, để rồi không định ra được ý-tứ của người viết nói thế nào? Về ai? Có ý gì? 
            Trình thuật hôm nay ta nghe được, lại là chương cuối của Tin Mừng Luca với 4 trích đoạn kể lại việc tông đồ Chúa đạt niềm tin về sự Sống lại. Ở hai đoạn đầu, Maria Magđala và Phêrô, đã đến mộ phần Đức Kitô, phát hiện ra Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết.
Ở đoạn trích thứ 3 -“Đoạn Đường Emmaus”- Luca lại nói đến trường hợp Đức Kitô hiện ra với các đồ đệ đang tụ họp. Ở đây, trình thuật kết thúc ngay câu 48, khi Đức Kitô dặn các tông đồ phải trở nên chứng nhân cho việc Ngài sống lại. Trong khi đó, nếu đưa thêm hai câu tiếp, ta sẽ thấy: Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ hãy ra đi loan truyền Tình yêu cứu độ cho thế giới, bên ngoài.
        Sở dĩ, Hội thánh kết thúc trình thuật hơi sớm là vì không muốn gộp chung báo trước việc Đức Kitô Thăng Thiên, tức Ngài về với “Cha” đang mong. Và làm thế, người đọc Tin Mừng thấy kết cục hơi đột ngột, không thông như giòng chảy ngọt ngào như toàn bộ chương cuối. Truyện kể “Đoạn Đường Emmaus” phản ánh điều mà mỗi người chúng ta vẫn thường làm trong buổi Tiệc thánh, mỗi Chúa Nhật.
       Thật thế, nếu đưa câu 49 và 50 của chương 24 vào chung với đọan Tin Mừng hôm nay, ta sẽ nhận ra tình huống tương tự khi Ngài mới sống lại. Đặc biệt, các động từ trong truyện cho thấy Đức Kitô như  hiện diện với đồ đệ đang tụ họp vào mỗi buổi dự tiệc. Ngài trao ban chính mình Ngài cho các đồ đệ để mọi người nhận ra Ngài, ôm Ngài vào lòng.
Trong khuôn khổ buổi tiệc, Đức Kitô vẫn cùng ăn cùng uống với các đồ đệ. Ngài vẫn dạy mọi người hiểu thêm ý nghĩa thánh kinh; và, Ngài uỷ nhiệm mọi người hãy ra đi loan báo Tin Mừng Yêu thương cứu độ, coi đây như sứ mệnh cao cả gửi đến mỗi người.
        Tiệc Phục sinh ban đầu đem lại kết quả cho mọi người cũng hệt như tiệc của lòng mến mỗi Chúa nhật. Chúng ta tụ tập đông đủ, ở đây và lúc này, là để tưởng nhớ; và, một lần nữa, chuyển biến sự kiện quan trọng này thành sứ mệnh sống còn. Đây là lý do Hội thánh luôn đề cập đến con số 40 ngày Chay tịnh, từ Lễ Tro đến lễ Vọng Phục sinh.
Thật ra, con số 40 ngày --(hoặc 45 nếu tính cho đúng)—có rơi đúng hôm nay hay sau ngày Đại lễ, thì mỗi Chúa nhật đều là ngày để ta trỗi dậy mà Sống lại và nhớ bài sai ra đi rao truyền Tình thương cứu độ của Đức Chúa. Và, điều này hợp với ý định của Hội thánh.
        Cũng tựa như tiệc Phục sinh ban đầu có Chúa hiện diện, mỗi Chúa nhật đều là ngày Phục sinh ta cũng có Đức Kitô mời đến tham dự Tiệc rượu Lòng Mến.
Tham dự Tiệc Thánh, ta tiếp tục được hướng dẫn hiểu rõ thánh kinh. Tiếp tục sống tinh thần Tin Mừng trong cuộc sống đời thường. Có sống thương yêu đùm bọc theo tinh thần của Tin Mừng, ta mới tiếp tục có Chúa hiện diện. Ngài hiện diện với các thánh tông đồ, ngày Phục sinh. Ngài cũng còn hiện diện với chúng ta.
Và, Ngài vẫn thương yêu, đùm bọc mọi cộng đoàn kẻ tin, lớn nhỏ. Đặc biệt hơn, Ngài vừa chủ toạ vừa đồng bàn với ta trong tiệc lòng mến, mỗi khi ta ngồi lại với nhau, tụ họp và tưởng niệm. Ngài dặn dò, khích lệ ta vui vẻ ra đi loan truyền tình Thương yêu cứu độ. Ra đi, với niềm hăng say, quả cảm. Ra đi, với quyết tâm thực hiện tình thương yêu trong đời sống thường nhật.
        Để giúp ta thành công, hãy vui nhận sứ mệnh này như món quà cao quý Đức Kitô trao cho ta qua các môn đồ, ngay từ đầu. Đó là: sự an bình và vui sống với người đời trần thế như chứng nhân của Tình yêu cứu độ. Có lẽ, đôi lúc ta cũng cần đến óc sáng tạo để cho sứ mệnh cao trọng này thêm sinh khí. Có sáng tạo và thêm sinh khí, ta mới vui sống, phấn khởi thực hiện điều Ngài giao phó trong xã hội đương đại đầy nhiễu nhương, ác cảm. Câu truyện của vị cao niên dưới đây sẽ minh hoạ cho óc sáng tạo, phấn khởi:
        Chiều hôm ấy, vị cao niên nọ quyết định ở nhà để vui hưởng sự yên tĩnh. Nhà cụ ở, nằm sát cạnh trường học, nên thường xảy ra nhiều chuyện ồn ào, bất ưng. Chiều chiều, cứ thấy có 3 người trẻ lảng vảng, đập gõ inh ỏi vào các thùng tôn đựng rác. Không ai khuyên bảo, can ngăn bọn trẻ bỏ cái trò tinh quái, khó chịu ấy.
Vị cao niên nhà ta bèn nảy ra một ý kiến. Cụ gọi bọn trẻ đến và bảo: “Này, bác có ý kiến này: các cháu xem có làm được không, nhé. Nếu chiều nào các cháu cũng đến đây, lấy gậy đập mạnh vào các thùng rác cho thật to, để mọi người thưởng thức được loại nhạc Tếch-nô. Gõ xong, hết giờ, đến đây bác tặng cho mỗi đứa một chục đô. Các cháu nghĩ sao? Bọn trẻ nhận lời, chẳng bỏ lỡ cơ hội. Tiếng gõ đập của chúng càng lúc càng đinh tai, nhức óc.
Vị cao niên cứ để bọn trẻ gõ cho đến lúc trời nhá nhem mới gọi đến, bảo: “Tiếc quá, hôm nay bác đi lãnh mà tiền cấp dưỡng chưa vào sổ. Thôi, các cháu cầm đỡ mỗi đứa 25 cents, bác đưa thêm sau”. Tên đầu xỏ, tức giận trả lời: “Bộ, ông tưởng tụi tôi bỏ bao nhiêu thì giờ làm chuyện này để được có 25 cents thôi sao? Đúng, ông thuộc loại dở khùng dở điên. Này, ông cúi xuống mà nhặt lấy 75 cents đi, bọn này không thèm thứ tiền ấy đâu.
Và, ngày mai đừng có mong bọn này trở lại gõ tiếp đâu nhé…” Thế là vị cao niên thắng lớn. Ông tìm được sự yên tĩnh cần có, để an hưởng tuổi già.
            Hôm nay, Đức Kitô cũng dạy ta hãy ra đi làm việc gì hữu ích cho mọi người. Đem tình yêu hài hòa đến với mọi người. Hãy sáng tạo đổi mới cách thực hiện, hầu mọi người hưởng an bình, vui sống. Vui, vì được nghe lời Chúa. An bình, vì đã có Tin Mừng Chúa bảo bọc. 
            Đó là sứ mệnh gửi đến mọi người. Cầu mong sao, ta sẽ khôn ngoan để biết cách tạo hạnh phúc và hoà bình, đến muôn người. Những người đang sống quanh ta. Bây giờ và mai hậu.
            Trong tâm tình cảm-nghiệm ý-tứ của người viết truyện Tin Mừng, có lẽ cũng nên ngâm thêm lời thi-ca vẫn ca tụng một gặp gở nào đó, ở đời người:

            “Còn mảnh hồn thương dạt bến nào?
            Vành môi vực thẳm máu dâng cao.
Mùa trăng thủy thảo hoa đầy gối,
Ánh mắt không lời đọng biển sao.
(Đinh Hùng – Giọt Máu Sao Trời)

“Mảnh hồn hay vành môi thương dạt bến nào” đi nữa, vẫn cứ là những “ánh mắt không lời” còn đọng ở biển sao cuộc đời người nhiều luyến tiếc. Tiếc rằng, sao Người không ở lại với ta cho thoả lòng cảm kích rất biết ơn. Ơn trời biển, nhờ đó mới nhận ra rằng Người vẫn ở với ta, hết mọi ngày cuộc đời, của con người.   

Lm Richard Leonard sj - Mai Tá lược dịch

Saturday, 4 April 2015

“Chân đứng lại hồn trôi vào thuở trước,”



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh năm B 12/4/2015

Tin Mừng (Ga 20: 19-31)
Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."
Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"

“Chân đứng lại hồn trôi vào thuở trước,”
Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa.”
(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

“Thánh thót lệ người xưa”, còn là những điều khác lạ xuất-hiện trước mặt nhiều người. Như vẫn từng xảy ra ở nhà Đạo bấy lâu nay.
            Đức Giêsu, khi xưa, cũng đã làm nhiều dấu lạ trước mặt các môn đệ. Nhưng, những dấu lạ ấy, không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép đây, là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.
          Cộng đoàn hội-thánh tiên-khởi nhấn mạnh nhiều đến dấu tích hằn in trên thân xác Đức Giêsu đã sống lại. Sở dĩ các ngài làm thế, vì hai lý do: thứ nhất, là để minh-xác Đức Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết. Ngài vẫn là Thầy Chí Thánh từng sống với các môn đồ cho đến khi chết. Kế đến, là để bảo: dấu hằn trên mình Thầy Chí Thánh là dấu tích Tình yêu của Đức Chúa.
          Mặt khác, truyện kể về tính ngờ-vực nơi thánh Tôma tông đồ, mang nhiều chi-tiết bí-nhiệm. Thật ra, thánh-nhân ngờ thế là để phản-chống ý-nghĩ xảo giả, ma-thuật vẫn có trong đầu người thời bấy giờ khi suy về sự sống lại. Quả thật, thân mình Đức Giêsu mang dấu-tích một hành-hạ khổ-ải dẫn đến cái chết nhục hình. Nay, thân xác ấy đã hiển-vinh, biến-đổi nhiều.
Dấu tích trên mình Ngài hằn-in khi sống lại, là để chứng-tỏ cho môn đồ biết đó là Ngài, hầu tỏ lòng yêu-thương, tôn-kính. Các môn đệ đều đã nhận ra dấu-tích, cùng với lời dặn-dò thân quen của Ngài. Như thế, sẽ không còn ngờ vực điều gì nữa.
          Như ta biết, cộng đoàn Êphêsô là cộng-đoàn được thánh Gioan nhắm đến, khi ghi lại trình-thuật Tin Mừng hôm nay. Cộng đoàn Êphêsô từng kinh-qua các giai-đoạn bách-hại, hành hình. Sau ngày đó, mới có chuyện thế-hệ tiếp-tục nghi-ngờ tự hỏi: các dấu tích Đức Giêsu mang trong người, có thật là dấu-tích của hành-hạ khổ-ải, hay không? Thật ra, thì cật vấn hoặc ngờ vực vẫn là chuyện dài. Mọi thời đại.
          Thời ta sống, vẫn có nhiều người dè chừng việc Đức Giêsu dẫn-chứng về dấu-tích hằn in của Ngài. Dạo gần đây, lại có thêm hàng loạt các phim truyện, tuồng tích như: Stigmata (dấu tích lạ), Dogma (Tín lý Đạo), Agnes of God (Agnes, thánh nữ của Chúa), và bộ phim gây kinh-hoàng như Daredevil (Tên liều mạng), tạo sự thu-hút nổ bùng, đôi khi mang dáng-dấp cay-cú, cuồng-nhiệt. Thậm chí, một số nhà làm phim tư-liệu còn cho chiếu những khúc phim mang hình-thái của thách-thức, đố-kỵ như bộ phim dài nhiều tập: “Tin hay không còn tuỳ” là phim lôi-cuốn đông-đảo quần-chúng, suốt một dạo.
          Cả đến những người hành-hương cũng cố thân-hành đến thăm tu-viện của cha Padre Pio, miền Nam nước Ý hầu tận mắt mục-kích bàn tay thánh-nhân từng rỉ máu, hoặc vết nương-long có thực sự chảy nước vàng, không? Những người như thế, muốn được thấy dấu lạ ngoài mặt, chứ chẳng bận-tâm đến niềm-tin bên trong. Đó, là điều được Đức Giêsu nhắc nhở rất nhiều lần.
Chẳng thế mà, trình-thuật nay lại nhắc: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Cuộc sống nay là dấu-tích để mọi người nhận ra là: chúng ta đang dõi bước theo Chúa trên đoạn đường khổ-ải có thánh-giá và có sự sống lại cùng với Đức Giêsu Kitô nay vinh hiển.
          Nhìn vào thực tế, ta thấy lời dạy và các dấu-tích khổ-hình được gửi đến với ta kèm theo lời dặn bình thường. Chẳng cần biện luận, ta đều biết: nhiều vị được hưởng ơn lành của Chúa, luôn mang dấu-tích hành-hình trên thân xác, nhiều tháng ngày. Chẳng cần tìm hiểu, ta cũng nhận ra nhiều chứng-cứ hiển-nhiên, là: tín-hữu hôm nay đang phấn-đấu cho niềm tin-yêu nơi Chúa, đến độ có lúc cũng mang về nhiều dấu-tích của thương-tật trên thân xác của mình.
Sự thật, mỗi người chúng ta đều mang trong mình dấu-tích sự chết của Đức Kitô. Tự thân, có người lại mang dấu tật-nguyền đớn đau, vì Tình thương yêu của Đức Chúa. Mặt khác, có người còn bị đời ngược-đãi, đánh gục đến độ phải mang dấu tật, thật dài lâu. Nhưng tiếc thay, có nhiều người, thay vì cảm-thông khen-ngợi Đức Chúa, lại cứ thúc thủ, nghi ngờ sự hiện-hữu của Ngài.
          Truyện Phục sinh hôm nay, không để ta chuốc lấy hổ-thẹn, hoặc tranh-luận đầy cãi vã, rằng: chuyện dấu-tích là không thật. Phúc Âm, nay giúp ta nhớ rằng: chính vào lúc mà niềm-tin của ta ra như hỗn loạn, thì đó là lúc Đức Giêsu đến với ta, rất nhẹ nhàng, bình an. Ngài đến, để đề-nghị một đồng-cảm với Đấng thương yêu ta đến độ mang trong mình dấu-tích của những hành-hạ xác thân, chỉ vì thương-yêu ta.
Đến với ta, Ngài chuyển-đạt sứ-điệp tình thương, đầy tha thứ. Đến với ta, Ngài còn cho biết: dù không đồng-cảm, ta vẫn được thứ tha mọi lỗi phạm không loại trừ.
Nhiều năm trước, bản thân tôi cũng đã cảm-nghiệm dấu-tích của sự chiến-đấu rất riêng-tư, khi tham dự buổi tĩnh tâm, hồi hướng. Đến khi thấy mình tụt xuống đến mức mộ thấp nhất, lại là lúc vị linh-hướng đem bài thánh vịnh 117 đến, nội-dung được lẫp lại ở thánh lễ hôm nay, trong đó có lời khẳng định rằng: “Ngươi sẽ nhận ra rằng: đá tảng mà thợ xây loại bỏ, đã trở nên tảng đá góc tường”.
Và, vị linh-hướng chủ-trì buổi lễ hôm ấy đã diễn-giải thêm: thường thì, Chúa lấy đi những gì ta ghét bỏ, hoặc không thích. Ngài tha thứ tất cả. Ngài chữa lành mọi sự và dùng nó để xác-định mô-hình cuộc sống, sự chết và sự sống lại vinh-hiển của Đức Kitô trong tâm-can mỗiđạo-hữu. Để rồi, ta lại giữ mãi chứng-tích Tình thương-yêu của Ngài.
Đó, cũng là điều xảy đến với thánh Tôma tong-đồ. Đức Giêsu đã lấy đi nỗi-niềm sợ-sệt của thánh-nhân. Ngài tha thứ cho lòng nghi-kỵ thiếu tin-tưởng vẫn thấy có nơi người phàm. Và, Ngài chuyển-đổi thành dấu-chứng hùng-hồn, hầu đỡ nâng các thế-hệ tiếp-nối, sẽ đến sau. Nhờ vậy, thế-hệ hôm nay cũng mang dấu-tích của sự phấn-đấu cho sự sống, và tin-yêu, cũng một kiểu.
Thành thử, vào Tiệc thánh hôm nay, ta được ban tặng một cơ hội để khám-phá ra rằng: đá tảng người thợ xây loại bỏ, vẫn còn nằm trong tâm-can của ta, cũng rất lâu ở giữa cộng đoàn ta chung sống. Đá tảng ấy, nay Chúa dùng như tảng đá góc tường, làm nền cho tình thương-yêu với mọi người.
Vì thế, khi nhận ra dấu-tích của hành hình đầy khổ ải, hãy nhớ rằng: Chúa đang lấy đi một phần nhỏ từ nơi ta. Ngài làm thế, vì Tình yêu tằng ban cho ta. Và, Chúa dùng nó ngõ hầu làm lợi cho ta. Để rồi, ta sẽ cùng với tác-giả thánh-vịnh ghi chú ở trên, mà ca rằng: “Đây là việc Chúa làm. Là kỳ quan, Ngài ban cho”. Dấu-tích của hành-hình, bách-hại, và khổ ải… vẫn cứ là dấu-tích của kỳ-quan diệu-hạnh, là: thứ Tình yêu Ngài tặng ban,  không chỉ riêng một mình ta mà thôi. Nhưng chol mỗi người và mọi người.
          Nhận-định thế rồi, nay ta quay về với thi-ca dù vẫn hát, rằnbg:
“Chân đứng lại hồn trôi vào thuở trước,”
Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa.”
(Vũ Hoàng CHương – Bạc Tình)
            Bạc hay không, vẫn nên nhớ mối tình muôn thuở Chúa gửi đến với ta, dù ta hoặc người có “tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa”, suốt đời người.  

Lm Richard Leonard sj
Mai Tá lược dịch

Saturday, 28 March 2015

“Tình đã chết, có mong gì sống lại”



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh năm B 05/4/2015
Tin Mừng (Lc 24: 13-35)
Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra.Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ.Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người.17 Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy? " Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.
Một trong hai người tên là Cơlêôpát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Đức Giêsu hỏi: "Chuyện gì vậy?" Họ thưa: "Chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi.Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy."
Bấy giờ Đức Giêsu nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn." Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?"
 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: "Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simôn." Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
 “Tình đã chết, có mong gì sống lại”
Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn”.
(Dẫn từ thơ Trần Dạ Từ)
Mừng Sống Lại, ta không chỉ loanh quanh việc gợi nhớ. Nhớ giây phút Chúa sống lại, đánh động tâm can đồ đệ, thôi. Nhớ Phục sinh, là nhớ rằng ơn cứu độ đã ảnh hưởng lên cuộc sống và niềm tin của con dân. Nhớ Phục sinh, còn là nhớ lời gọi mời đổi mới tận gốc rễ, như đồ đệ Chúa đã làm, thời tiên khởi. Nhớ Phục sinh, không chỉ là tin tưởng và loan báo việc Chúa sống lại, nhưng còn phải tác động lên điều mình tin lên tình thương yêu, rao giảng.
            Bài đọc 1, thánh Phêrô nói đến kinh nghiệm mà thánh nhân muốn sẻ san với cộng đoàn đang nghe giảng. Là môn đồ gần cận, thánh nhân san sẻ với mọi người về giảng rao. Nhờ có kinh nghiệm, thánh nhân biết đích xác Đức Giêsu đã chết trên thập giá, nay đang sống với các thánh, trong niềm vui đầy tràn. Và, các thánh san sẻ niềm vui ấy với mọi người. Để, ai nấy cùng vui như Ngài. Với Ngài.
            Bài đọc 2, Phaolô, một Pharisêu cương nghị, từng bức bách con dân của Chúa, cũng có kinh nghiệm về sự sống lại, với mình. Và, thánh nhân đã hồi hướng trở về cùng Chúa, ngay trên đường đi Đamát. Hồi hướng trở về, thánh Phaolô đem dân con Chúa về với cộng đoàn tình thương.
            Qua kinh nghiệm, Phaolô thánh nhân đích thân thay đổi cuộc sống. Bằng vào kinh nghiệm sống lại, thánh nhân đã có thị kiến mới về mọi sự, về cuộc sống của Đức Giê-su và về thông điệp Ngài đem đến. Cuối cùng, thánh nhân đã sử dụng trọn vẹn năng lực mình có để phục vụ, theo cung cách khi trước hầu giúp đỡ mọi người biết yêu thương và dấn bước theo chân Chúa.
            Trình thuật, nay kể về “Mộ trống” như dấu hiệu Chúa về lại với cuộc sống, bình thường. Và thánh sử kể về sự kiện Maria Magdala và đồ đệ Chúa đến mộ phần, chứng kiến và tin vào Chúa Phục Sinh. Tin, là tin vào Tin Mừng, như đã viết: “Hai ông chưa hiểu rằng theo Kinh thánh: Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20: 9). Tin và hiểu, như hai vị tông đồ trên đường Emmaus, cũng được giải thích, để hiểu rõ. Tin và hiểu, là biết chấp nhận một sự thật: Chúa chấp nhận khổ đau và sống lại, quả đúng như điều được ghi trong Cựu Ước.          
            Suy cho cùng, ta hiểu Phục sinh không đơn thuần là phục hồi sinh lực cho cơ thể Chúa. Phục sinh, không là chuyện tai nghe mắt thấy. Thấy, như đã thấy Chúa bị đóng đinh như sự-kiện lịch-sử mà là sự kiện của niềm tin. Đức Chúa Phục sinh, nay sống lại để đi vào cung cách mới, của sự sống.
            Các văn bản sau ngày Chúa Phục sinh, cho thấy: Ngài không được các tông đồ gần cận, nhận thức trước. Ngài ở những nơi mà đồ đệ Ngài đi đến. Chúa Phục Sinh phải được hiểu, là Ngài mang nơi Mình Ngài, một hình thức tân tạo. Mang cung cách hoàn toàn mới mẻ để hiện hữu ở với ta. Và, cung cách mới, đó là cộng đoàn dân con hiện thân Nước Trời, ở trần gian, tức tương quan dân của Chúa.
            Đọc tiếp trình thuật, ta sẽ thấy: thánh Phêrô và “môn đồ được Chúa thương” đích thân chứng kiến Chúa sống lại, đã chạy về kể cho bạn bè nghe những điều mình “tai nghe mắt thấy”. Riêng Maria Magđala, người nữ phụ đầy lỗi phạm khi trước, nay đã dâng trọn đời mình để Chúa dẫn dắt. Chính nhờ thế, Thầy Chí Ái đã vui lòng ở lại, với chị. Với mọi người.
Với Maria Magđala, mặc khải “Chúa sống lại” là sự kiện: có thiên thần hiện diện, tức do Chúa. Và, khi ngước mắt quay nhìn, chị thấy Chúa nhưng không nhận ra. Đó là điều, khiến chị bật thành tiếng khóc trong mừng vui. Vui, vì biết rằng Chúa Sống Lại đã hiện ra với chị. Với người đời. Thế mà, chị cứ ngỡ Ngài là “người làm vườn”.
“Người làm vườn”, lời Tin Mừng được thánh Gio-an nhiều lần nhắc đến. Vườn, là chốn địa đàng, nhị vị tiên tổ từng ngã phạm (Kn 2: 23). Vườn, là nơi chôn Chúa, chốn cứu chuộc (Ga 19: 41). Vườn, là khu lưu giữ chiên đàn, Chúa nói đến (Ga 10: 1-5). Tựu trung, Chúa Phục Sinh từng gọi tên Maria Magđala để mặc khải, hay gọi tên chiên con, đều ở đây ở trong vườn.
“Thôi đừng giữ Thầy lại”, điều này chứng tỏ: dân con Đạo Chúa cứ đeo đuổi bám víu vào con người “cũ” của Đức Chúa. Trên thực tế, Đức Giêsu nay đã về với Cha, trong quang vinh. Về với Cha, Ngài hứa sẽ trở lại, nhưng theo cung cách khác. Bằng một thực thể mới mẻ, khác lạ. Và, ta chỉ gặp Ngài, nơi những người được coi là đồ đệ. Người liên kết làm một Thân Mình Chúa. Một Hội Thánh Chúa ở địa phương.
“Tôi đã thấy Chúa!”, lời kể của Maria Mác-đa-la, người nữ phụ từng phạm lỗi, rất nặng theo luật Do Thái, cũng là của phụ nữ, những người có vị thế rất thấp trong xã hội. Nhưng, với Tin Mừng, lại được ưu tiên cao. Ưu tiên được biết trước nhất, chuyện Chúa sống lại. Đó chính là mục đích cũng như ý nghĩa của sứ vụ rao báo Tin Mừng. Rao báo, không chỉ là chuyển giao triết lý của lòng tin. Mà còn là, san sẻ cho nhau những kinh nghiệm mình chứng kiến.
Kinh nghiệm được gặp và được thấy Chúa trong cuộc đời, của chính mình. Rồi sau đó, mời gọi mọi người cùng làm như thế. Mừng kính Chúa Phục Sinh, ta cũng được gọi mời cùng một cung cách như thế. Gọi và mời theo một kiểu như Phêrô thánh nhân, Maria Mácđala và đồ đệ khác. Một kiểu cách như bài đọc hôm nay.
Đọc thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, ta đều thấy: lời mời gọi Phục Sinh là một gọi mời hồi hướng trở về, tận căn rễ. Là, thanh lọc tự bản thân, của mỗi người. Khi cử hành lễ Vượt qua, người Do Thái có thói quen đổ bỏ bánh lên men mà họ vẫn có. Thay vào đó, là bánh không men, vừa mới cất.
Thói quen đổ bỏ bánh lên men này, vì qua tiến trình lên men tạo nên bánh, men được coi là nhân tố gây lũng đoạn bột. Vì thế, thánh Phaolô khuyên ta nên mừng lễ Vượt Qua, “đừng với men cũ, là men gian tà, ác độc; nhưng, với Bánh không men của lòng tinh tuyền, và chân thật.” (1Cr 5: 6)      
Về lại bài đọc 1, từ sách Công vụ Tông đồ, thánh Phêrô nhấn mạnh đến tầm vóc quan trọng của đồ đệ Chúa. Quan trọng ở chỗ, ta không chỉ rút kinh nghiệm từng trải và vui hưởng niềm vui Đức Chúa là Thầy Chí Thánh nay đã Phục Sinh, mà thôi. Nhưng còn phải sẻ san kinh nghiệm và niềm vui ấy cho càng nhiều người càng tốt. Đó là điều ta nên làm. Nên làm vì nếu  chỉ liên hoan Phục sinh thì mới có nửa phần. Mà, với người Đạo Chúa, Phục Sinh là đại lễ diễn ra hằng ngày. Là, ngày vui Chúa Sống lại, ta san sẻ với hết mọi người. Vào mọi ngày.
Lời thánh Phêrô “còn chúng tôi đây xin làm chứng”, là làm chứng về những việc Chúa đã làm. Về, việc Chúa bị bắt, hãm hại và giết đi. Về, “Thiên Chúa đã làm cho Người trổi dậy” và chúng ta, là “những kẻ được cùng ăn cùng uống với Người” (Cv 10: 40-41), vẫn là điều ta vẫn làm mỗi khi tham dự Tiệc Thánh Thể. Dự Tiệc Thánh, ta vẫn ăn và vẫn uống Thân Mình Đức Chúa Phục Sinh, quang vinh.
Vậy thì, thông điệp ta có được từ lễ Chúa Phục Sinh, là thông điệp gì? Ta có đáp ứng đòi hỏi làm con dân Đức Chúa, hay chỉ ngồi đó tham dự thánh lễ mỗi Chủ Nhật, như người dưng? Bởi, thông điệp của Chúa là thông điệp gửi mỗi người chúng ta. Gửi, để ta ra đi mà rao báo Tin Mừng Ngài đã Phục Sinh. Rao và báo, cho cho con dân Ngài biết  Thiên Chúa đã chọn Đức Giêsu đến với ta, không phải để lên án kẻ sống với người chết. Nhưng, để mọi người tin vào Ngài, sẽ được tha thứ mọi lỗi lầm, ngang qua Ngài.
Trong tinh thần mừng Chúa Sống Lại, ta hãy cúng nhau ngâm lại lời thơ trên, rằng:
“Tình đã chết, có mong gì sống lại”
Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn”.
(Trần Dạ Từ)
Sống lại, với mọi người vẫn là sống trỗi dậy từ mối tình đã chết. Tình chết với nhân-gian, người phàm hay bạn hữu thân thương ở Nước Trời, vẫn cần sống lại, mãi mãi, rất thiên thu.

            Lm Richard Leonard sj 
Mai Tá lược dịch