Sunday, 8 June 2008

“Trên gương mặt người, cao vợi một niềm tin”

Khi mỗi một ngày, là một lời kinh

Đem đến trong tim, an bình tịnh độ

Thế giới của tôi chẳng còn đau khổ

bất hạnh, không hề có chỗ dung thân.”

(Dẫn nhập bằng thơ Tiểu Thảo)

(Mt 9: 36; 10: 1-8)

Quả có đúng, khi mỗi ngày là một lời kinh. Kinh an bình, tịnh độ, rất dễ thương. Có an bình lời kinh đến trong tim, thế giới chẳng còn khổ đau, nữa. Đó là thông điệp nơi trình thuật, buổi hôm sớm.

Tin Mừng hôm sớm bữa nay, bắt đầu một nhận định: “Chúa nhìn đoàn người đông đảo, bèn chạnh lòng thương”. Thương người, Ngài nói: “Họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.” (Mt 9: 36). Từ ngày ấy, mọi sự như chẳng đổ thay. Người người vẫn lầm than - vất vưởng, không hướng sống. Không hướng, tựa như ý/lời nhạc bản ở nơi đó Diana Ross và The Supremes vẫn hỏi han: “Anh biết chăng anh, con đường ta đang đi tới?” Và, câu trả lời nay kiếm tìm, thấy ở đâu?

Lúa chín đầy đồng, mà thợ thì ít. Anh em hãy xin chủ sai thợ ra đi gặt lúa.(Mt 9: 37b). Nếu đếm, ta sẽ thấy: thế giới hôm nay, những người bước đi theo Chúa, cộng lại cũng đã một phần năm. Bốn phần còn lại, còn chưa biết Tin Mừng. Vẫn xa lạ như người dưng, những lầm than và vất vưởng. Cả dân con nhà Đạo dù mang danh Kitô hữu. Dù đã thanh tẩy nhưng vẫn cứ như người lạ. Vẫn như người dưng vất vưởng.

Trong khi ấy, hàng triệu dân con tuy ngoài Đạo, vẫn có niềm tin thần thánh. Niềm tin riêng của Do Thái giáo. Lòng sùng bái vững mạnh, ở Đạo Hồi. Chất đạo hạnh, của Phật và Ấn giáo. Chẳng nghi ngờ gì, tôn giáo bạn đã nhận thức nghĩa sâu của cuộc đời. Và nay, có nhiều bậc thánh, các tiên tri nhà thần bí. Quả là sai, nếu ta vẫn coi họ như “dân ngoại”, với “vô thần”. Bởi, dân ngoại hay vô thần chỉ thấy có ở xã hội giàu sang, phương Tây. Nơi đó, có văn minh thượng thặng, chẳng ai tin.

Quả có đúng, mùa hái gặt vẫn đầy đồng, khắp mọi nơi. Duy ở nhà Đạo, người người vẫn quả quyết: thợ hái gặt nay vẫn thiếu. Thiếu nhiều, thiếu lắm, nhưng không cần thợ gặt có chức quyền tựa linh mục- tu sĩ, hoặc các sơ? Thợ gặt cần, Thầy kiếm tìm ở đây chính là người anh người chị dấn bước theo Thầy, tại khắp chốn. Gặt hái thế nào, vẫn còn tuỳ hoàn cảnh tình đời, ta đang sống. Tuỳ gia đình. Tuỳ công việc, tuỳ nền giáo dục - bản vị - tâm linh, dân đi Đạo.

Đáp lời Thầy, lẽ ra ta phải nói: “Thưa Ngài, này con đây!” Nhưng, xưa nay ta vẫn tưởng: Thầy có gọi, thì chỉ kêu ta trở nên linh mục/tu sĩ/nữ tu, thôi. Hơn nữa, ta nghĩ “ơn gọi”/“lời mời” làm thợ gặt là lời chào Thầy gửi đến một ai khác, không phải ta. Vì thế, người người mới lơ là/dửng dưng và tưởng rằng: chẳng bao giờ Thầy lại ám chỉ vào mình.

Trình thuật hôm nay, khởi đầu bằng lời nhắn nhủ hãy xin Thầy gửi thêm thợ gặt cho cánh đồng vàng ươm, nhiều lúa chín. Thực sự, vụ mùa hôm Thầy gặt đếm được chỉ mười hai. Mười hai vị, được trao quyền chữa tật bệnh, và đầy lùi thần ô uế. Và, Thầy trao quyền giải thoát hết mọi người, không chỉ mang tính thánh thiêng tôn giáo, những giải thoát. Chữa lành/giải thoát ở đây, là chữa cả tinh thần lẫn và thể xác, rất trọn vẹn. Ở mọi cấp.

Đồ đệ Thầy chọn với danh xưng “tông đồ”, được thánh sử ghi lại duy nhất có một lần, ở Mát-thêu. Đồ đệ nơi thánh sử Mát-thêu, là người bước theo chân mềm của Chúa đi. Những người quyết học hỏi điều xuất phát từ Lời Thầy đã bảo. Quyết giống thầy, nhưng danh xưng “tông đồ” là để chỉ dân con đồ đệ, những ai đặt trọn niềm tin nơi Thầy. Những người mang trọng trách chuyển giao thông điệp Thầy gửi đến. Thành thử, hãy trở nên đồ đệ trước đã. Sau đó, hẵng thành tông đồ cận kề năng động, sau.

Nhưng, tông đồ Thầy chọn chỉ đếm được, có mười hai? Mười hai, là số con mà tổ phụ Gia-cóp xưa, đã từng có. Mười hai người con duy nhất, thành lãnh tụ chi tộc trên toàn Israel, lúc còn chia cắt. Mười hai, nay là con số thủ lãnh của Israel mới. Một Vương Quốc, được gầy dựng nhờ Đức Giê-su.

Về tông tích, tông đồ là người được Chúa phối kết, hội tụ. Có vị rất kém chữ, cần học thêm. Có vị, xuất từ đám công-bộc-rặt-dân-thu-thuế, những nhũng lạm. Còn vị khác, lại đã mang tăm tiếng đối kháng với nổi loạn. Tức là, con người chỉ hăm he lật đổ giới chức cầm quyền, vào khi ấy. Và có vị, cuối cùng trở thành tên bội phản, rất nổi danh. Nhưng tất cả, đều đứng dậy vội bước theo Thầy, làm thợ gặt. Làm thợ cho Thầy, chẳng vị nào từ chối khéo, như: “Tôi không xứng với việc Ngài giao phó”

Nhìn vào Hội thánh hôm nay, theo chiều kích rộng mở - phức hợp; theo đặc trưng đa năng văn hoá, phải công nhận: tông đồ Chúa hôm nay vẫn hiếm quý. Quý và hiếm, nhưng Chúa dùng các ngài được, sao không phải chính ta? Và hôm nay, nếu Chúa đích danh mời gọi, ta có đáp trả như đồ đệ xưa, thưa rằng:”Thưa Ngài, này con đây!”, chứ?

Thoạt đầu, tông đồ Chúa được bảo: hãy đến với “đàn chiên đi lạc”, tránh người Samaritanô và dân ngoại. Lời mời Chúa đưa ra, chỉ gửi đến với đàn con riêng của Ngài. Việc Chúa làm, tưởng chừng như chỉ tập trung gửi người Do thái, thôi. Nhưng, việc Ngài uỷ thác là uỷ nhiệm cho dân gian mọi người ở khắp chốn. Và điều Chúa kỳ vọng nơi tông đồ, là lời Ngài loan báo “Nước Trời đã gần kề”.

Nước gần kề, không có nghĩa là: ngày thế tận nay đã đến. Cũng chẳng là ngày dân con người người khi chết được về chốn “thiên đàng”, không trở ngại. Thật ra, thánh Mát-thêu khi viết sử là muốn chúng ta ra khỏi lối hiểu biết hạn hẹp của nhiều người, lúc ấy. Chính vì thế, thánh nhân nhiều chỗ đã tránh sử dụng cụm từ “Thiên Chúa” và “thiên đàng”. Thay vào đó, ngài viết rõ “Nước Trời”, tức Vương Quốc hiền hoà của Đức Chúa.

Vương quốc, không là chốn không gian mang tính địa dư. Mà là triều đại, có sự hiện diện của Đức Giê-su Kitô. Về với Vương quốc hiền hoà của Chúa, không về lối mòn thầm bước nào đó, nhưng là đặt trọn tâm can của mình theo đường lối Ngài nhủ khuyên. Làm như thế, ta có được suy tư của Đức Chúa truyền cho ta. Làm như thế, là biến đường lối của Ngài dạy thành đường đi ta nhắm đến.

Tông đồ của Chúa, là người biết theo lời Ngài mà loan báo Vương quốc Nước Trời Ngài đã hứa nay gần kề. Nước gần kề, bằng những chữa lành người tật bệnh. Bằng, vực dậy kẻ đã chết. Bằng, chùi sạch vết thương phong cùi, đẩy lùi loài ma quái. Nhất nhất, là dấu chỉ quyền lực tình thương, nhiều giùm giúp. Tình ấy, nay đi dần vào nơi sâu lắng, của lòng người. Vào cuộc sống dân gian, con của Chúa.

Dùng ngôn ngữ thời đại, điều này có nghĩa:

*Mang điều lành, chạy chữa đến với mọi người. Những người đau yếu theo nhiều cách. Không chỉ yếu đau về thể xác, mà thôi.

*Dù không thể vực dậy người đã chết, nhưng ta vẫn có thể giúp mọi người tạo lại niềm vui sống. Bởi, nhiều người tuy đang sống thật về thể xác, nhưng lại đã chết về mặt khác.

*Lau vết phong cùi, đẩy lùi loài ma quái/ghẻ lở. Với ta, điều này có nghĩa: ta hãy phục hồi đưa mọi người sống ngoài lề bị xã hội bỏ rơi hoặc tẩy chay/khinh thường do sắc tộc, mầu da, tôn giáo, giới tính, hoặc trở ngại trong hôn nhân, được về với cộng đoàn, đầy năng động.

*Đẩy lùi loài ma quái hôm nay, là đẩy lùi mãnh lực làm ta ngộp thở. Buộc ta sống như người nô lệ, thời buổi trước. Đẩy lùi những gì đang thao túng/giới hạn tự do khiến mình không thể sống trong sự thật và tình thương yêu, đùm bọc. Đẩy lùi mãnh lực của ma quái, là bỏ đi lối sống thác loạn. Lối sống, nhiều sức ép bắt buộc mọi người theo, tựa như: thời trang, mải mê ăn chơi, sống thác loạn với ma tuý, độc dược. Là, khoái lạc chủ nghĩa. Là, cá nhân vị kỷ và bạo lực đủ mọi hình thức. Hãy đẩy lùi thứ đó khỏi nơi ta, trước khi tìm cách giùm giúp mọi người được giải thoát.

Cuối cùng, lời dặn dò: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho nhưng không như thế.” (Mt 10: 8). Đây là quà tặng Chúa trao ban cho mỗi một người. Món quà vô giá, cần được cho đi một cách nhưng-không. Cho một cách tự do, vì lợi ích của tất cả mọi người. Cho đi, không phải để chia sớt tiền bạc và tiếng tăm đã tậu được. Nhưng cho đi, như tổng thống Mỹ Kennedy, khi trước từng nói: Đừng hỏi người khác đã làm gì được cho mình, nhưng hãy tự hỏi mình làm được gì cho người khác, chưa.

Trong tinh thần biết lắng nghe lời Chúa, hãy cùng người nghệ sĩ hát lên lời nhắn, với loài chim:

“Bay đi, cánh chim biển hiền lành

chẳng còn, giấc mơ nào để giữ đôi chân anh

chẳng còn, tiếng nói nào để trách cứ anh

khi, mặt trời đậu trên đôi cánh vỗ.

Giấc mơ của tôi, và cánh chim hải âu

Bay ra khỏi tầm tay, và tiếng sóng..” (Đức Huy – Bay đi cánh chim biển)

Vâng. Cứ đi và cứ bay, như loài chim biển. Bay đi, để người người biết nhận ra “trên gương mặt người, cao vợi niềm tin”. Tin rằng, thế giới nay chẳng còn đau khổ. Vì, có tông đồ nghe theo lời mời Chúa gọi, đã ra đi. Đi, mà hái gặt đồng lúa chín đầy. Đi, để đem đến cho người, những an bình - tịnh độ, rất trong tim.

___________Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch

Saturday, 31 May 2008

“Lòng bâng khuâng bối rối, trước khúc quanh”

Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,
Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi
Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi
Niềm uất hận của một thời lạc lối
(thơ Thâm Tâm)

(Mt 9: 9-13)

Bâng khuâng bối rối, là tâm tình của nhà thơ, trước khúc quanh. Khúc quanh đời mình với nhà Đạo, cũng chẳng làm ai bối rối, vẫn quyết tâm. Quyết theo Chúa, như Mát-thêu-người-thu-thuế, đã diễn tả ở Phúc Âm. Hôm nay.

Phúc Âm hôm nay, kể về việc Chúa gọi người thu-thuế-mang-tên-Matthêu. Phải chăng, đây là Mát-thêu-thánh-sử nhiều người mến? Các nhà chú giải đương đại, lại nghĩ: Tin Mừng hôm nay được viết bằng ngòi bút của tác giả ẩn danh, thời các thánh. Theo truyền thống, tác giả nào nổi danh viết điều gì, sẽ được gắn tên mình lên bài viết/tác phẩm ấy. Ở Tin Mừng Mác-cô và Luca, vị ấy mang tên: Lê-vi.

Dù có là ai khác, khúc quanh cuộc đời nơi Lê-vi hay Mát-thêu-người-thu-thuế, nói lên một chuyện không ai ngờ trước. Như đoạn văn/thơ nơi bài đọc một: “Ta phải ra sức nhận biết Chúa, như hừng đông mỗi ngày xuất hiện. Người đến, như mưa rào, mưa xuân tưới gội đất đai.” (Hs 6: 3). Ngày giờ Chúa đến gọi, vẫn bất ngờ là thế. Nhưng, Mát-thêu-thu-thuế vẫn luôn sẵn sàng, khi Ngài gọi.

Là dân thu thuế, Mat-thêu bị xã hội Do Thái luôn coi rẻ. Vào thời của Chúa, những người như thế còn bị ghét bỏ/tẩy chay vì đã phục vụ đám thực dân người La Mã, ở bên trên. Bởi thế, họ vẫn bị người đời coi như đã bội phản dân mình. Phản cả Đạo Chúa.

Thực dân La Mã có thói quen tính sưu cao thuế nặng rồi bổ lên đầu lên cổ người dân đen. Họ thường thu nhiều hơn cả số thuế mà đám thực trên dân đòi hỏi. Thu nhiều hơn, hầu có của dư của để mà sống cuộc đời thoải mái qua sai biệt. Sai biệt ấy, họ coi như thù lao mình được quyền. Thành thử, đám người thu thuế ở Do Thái vẫn kiếm bổng lộc phụ trội, thành thói quen tham nhũng, với mãi lộ.

Tham ô/nhũng lạm bị toàn dân ghét bỏ, là chuyện dễ nhận thấy; nhưng ở đây, Chúa vẫn mời gọi những người này cất bước ra đi theo chân Ngài, để giảng rao. Hãy tưởng tượng, Mát-thêu-thu-thuế ngỡ ngàng đến độ nào khi ông được Chúa đích danh, chào mời. Đây là mô hình tuyệt hảo, cho thấy tầm nhìn của Chúa vượt mọi khuôn đúc cấm kỵ, vẫn hằn in bên trong tâm khảm người đương thời. Đây là bài học ta cần biết đến để rồi đừng đánh giá thấp các thiếu xót/ lỡ lầm của con người. Lỡ lầm và thiếu xót ấy, Mát-thêu-thu-thuế đã biết bỏ lại, hầu bước theo chân Chúa, trọn niềm tin.

Bài đọc hai, thánh Phao-lô nói nhiều về niềm cậy trông/tin tưởng của Áp-ra-ham nơi Đức Chúa. Cậy trông - tin tưởng, cả khi ông biết mình đã già nua/tuyệt vọng trong ao ước có con nối dõi tông đường. Thánh nhân viết: “chính nhờ niềm tin, ông đã vững mạnh và tôn thờ Thiên Chúa” (Rm 8: 20). Và, Mát-thêu-thu-thuế không những đã bước theo chân Thầy, mà còn: “dùng bữa tại ngôi nhà.” Dùng bữa tại nhà, có các môn đệ và đám thu thuế khác, cùng ngồi ăn.

Tại ngôi nhà, là nhà của ai? Có thể, nhà ấy là nhà của chính Mát-thêu-thu-thuế. Cũng có thể, là nhà của ai đó Chúa nán lại. Cũng có khả năng, nhà đây chính là nhà của Đức Chúa. Tại ngôi nhà, là cụm từ thường lặp đi lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng Nhất Lãm. “Ngôi nhà”, là nơi Đức Chúa cùng với nhóm môn đệ và nhiều người khác, đã ngồi lại để cùng ăn. Ngồi lại và cùng ăn bên giường của Ngài, hầu nghe và nhận thức điều cần biết. Cùng ngồi và cùng ăn, để được Ngài chữa lành. Đây là khuôn vàng thước ngọc, mà cộng đoàn Hội thánh luôn nhắm đến cùng một mục đích.

Nhìn cộng đoàn dân Chúa cùng ăn và cùng ngồi, nhiều “đấng bậc” Pha-ri-sêu tỏ ra rất bất mãn. Họ bèn vấn nạn: “Sao Thầy lại cứ ngồi mà ăn với bọn người-thu-thuế, quân tội lỗi thế?” (Mt 9: 11). Hỏi, là có ý bảo rằng: nếu Ngài là Đức Chúa và bậc Thầy, sao lại giao du với phường “giá áo túi cơm”, thiếu đạo đức như thế? Giao du gần gũi, Thầy đâu ngại lây lan những tật bệnh. Hơn thế nữa, Thầy vẫn dùng của ăn/thức uống ở những nơi Ngài lưu lại, trú chân. Những nơi, mà sự thường chẳng vị nào dám mời phường tệ lậu như thế.

Và, đáp ứng của Đức Giê-su luôn qui về lời lẽ ghi trong Cựu Ước. Ở đây, là lời tiên tri Hô-sê được ghi trong bài đọc: “Ta muốn tình yêu chứ không cần của lễ; muốn được người nhận biết, hơn lễ vật toàn thiêu.” (Hs 6: 6).

Dùng ngôn-từ thời đại hôm nay, hẳn tiên tri Hôsê sẽ nói: lễ lạy, kiệu rước kinh kệ sẽ chẳng có giá trị gì; trừ phi ở đằng sau, chứa đựng một hiểu biết, rất đích thực. Hiểu rõ ý định của Chúa. Biết chắc con Đường Ngài đang đi. Rồi từ đó, đón nhận Thiên Chúa hết lòng mình. Hiểu biết và thực hiện động tác yêu thương giùm giúp các người anh người chị đang mỏi ngóng trông chờ ta kêu mời, như Đức Chúa.

Đáp trả như thế, Đức Giê-su đã đích danh chỉ trích đám Pha-ri-sêu tự phụ, nặng hình thức. Ngài đem đến cho họ, tầm nhìn mới có viễn tượng hoàn toàn khác biệt. Việc họ cần bàn, không là chuyện Ngài có bị lây lan thói tục của người ô uế - rất tội phạm, hay không. Nhưng đúng hơn, chính họ mới là người cần được chữa lành bằng sự hiện diện, bằng ảnh hưởng của Ngài. Họ cần, để rồi tâm can mình sẽ ngập tràn tình thương yêu đích thực. Thương yêu tha nhân. Giùm giúp mọi người.

Bởi, những ai biết quan tâm đến người khác, sẽ luôn tìm phương cách để hỗ tương giùm giúp các thiếu hụt mà người anh người chị của mình, đang chịu nhiều cay đắng, với khổ đau. Chính vì thế, Chúa đã có câu nói để đời: “Người đau ốm tật bệnh mới cần thầy thuốc” (Mt 9: 12). Quả thật, chính những người như thế mới cần có Chúa ở sát bên. Mặt khác, chỉ những ai thiếu thốn về mặt tâm linh/đạo đức mới mong Chúa dành thì giờ quây quần, ở bên họ.

Bài đọc hôm nay, là một bài học hữu ích cho thế giới đương đại. Đã nhiều lần, ta từng nghe thiên hạ xầm xì vấn nạn, khi Chúa chỉ chọn lựa mỗi giới tầm thường thấp bé làm bậc thủ lĩnh trong Đạo, như: linh mục, tu sĩ hoặc giáo dân ngoan, mà thôi. Nhìn vai vế “lý lịch” của Nhóm Mười Hai, sẽ thấy các thánh đều thuộc thành phần nông dân/thuyền chài - văn dốt/võ rát, hơn ai hết. Các thánh, là những người thường ngay như ta cũng chẳng hề ngó ngàng, bận tâm đến.

Biết bao tụ điểm thị thành nơi ta sinh sống, là những nơi mà đa số dân con đi Đạo thường không muốn bén mảng. Có người còn viện cớ chủ trương: nơi đó không thích hợp cho người dân ngoan hiền đi Đạo, giống như ta. Rồi vì thế, mọi người đều vẫn mong né tránh.

Cứ thử hỏi, Đức Chúa có hiện diện nơi xí nghiệp/công sở ngập đầy những người vô thần, chẳng tin một ai? Ở nơi có nghiện ngập/hút sách, có chốn ăn chơi/phòng trà, dành riêng cho kẻ vô gia cư, thất nghiệp, cô đơn và lẻ bóng. Nếu Chúa vẫn xuất hiện tại chốn thị thành nơi ta sống, ta sẽ gặp Ngài ở nơi đâu? Chốn nào? Nơi giáo xứ, dòng tu hay căn nhà ổ chuột, không ai thích?

Thiết tưởng, hôm nay đây, chắc hẳn Ngài cũng lân la nơi phố chợ đầy mùi hôi, những xú uế. Hoặc, tại phố phường chật chội, lem luốc, chốn người qua? Gặp lại dân đen hôm nay, chắc Ngài sẽ bảo: Ta muốn con yêu thương giùm giúp kẻ không nhà, đang chui rúc đầu đường xó chợ, chứ không mong con đem quà tế lễ, với hiến dâng, đâu!

Nói cách khác, làm dân con đồ đệ, người người phải cất bước đến với nơi nào/người nào cần mình hơn cả. Cần mình, là cần đến để san sẻ yêu thương và giùm giúp. Chứ, không là những người chỉ để thì giờ ra mà sinh hoạt tình tiết, với “lễ nghi”. Dù, có là nghi lễ của nhà Đạo. Hoặc, lễ tiếp tân đình đám ở ngoài đời. Tức là, những người chi li với chấm phết lễ tân, đầy kiểu cách. Là, các vị chỉ biết có nhà thờ, kiệu rước với đọc kinh. Nhưng lại ngủ yên trong niềm tự hào, đầy mãn nguyện. Ngủ yên không bối rối. Chẳng bâng khuâng, hay vấn nạn.

Trung thành nghe Lời Ngài dạy bảo, người người cũng cần được chữa lành. Cần, để cho lòng thương xót trở thành tình tự thân quen, của riêng mình. Lòng Chúa xót thương, cần được chuyển tải - hướng về những ai thật cần thiết. Đó mới là của lễ đích thực, ta dâng tiến. Đó chính là điều Chúa mong muốn, từ chúng ta. Không có lòng xót thương nội tại, việc tham dự Tiệc Thánh sẽ trở thành hành động rỗng tuếch, mất ý nghĩa trọng tâm.

Trong nhận định vững chãi như thế, ta hiên ngang cùng người nghệ sĩ hôm xưa cùng hát:

“Tôi yêu, đi bộ dưới hàng cây

đấu vui với bạn bè

và ly rượu ngon,

tôi yêu, trong nhà nhiều cây lá

tôi yêu, những người già…” (Và tôi cũng yêu em! - Đức Huy)

Và, tôi vẫn yêu em. Dù em tôi có nghèo hèn, tội lỗi hoặc chỉ là dân chích choác. Dù anh, dù chị có là người già - nhiều đau khổ, tôi vẫn yêu. Yêu, như Chúa dạy bảo, mà lòng chẳng “bâng khuâng bối rối, trước khúc quanh”. Những khúc quanh cuộc đời, nơi lập trường. Nơi tư tưởng. Vẫn gần bên.

____________Lm Phan Đỗ thục Linh

Mai Tá diễn dịch.

Sunday, 25 May 2008

“Con xin Chúa một giờ, chuông ngọ đổ”


Chuông ngọ từng hồi, chuông ngọ đổ

Từng hồi chuông ngọ đổ, chơi vơi

Con nghe chuông đổ, rồi con khóc

Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!

(dẫn nhập nguồn thơ Nguyễn Bính)

(Mt 7: 21-27):

“Chơi vơi, nghe chuông ngọ đổ từng hồi”, nhà thơ khóc. Khóc xong, nhà thơ xin Chúa cứu hồn mình, và chuông đổ. Chuông ngọ đổ, dân con nhà Đạo cũng nghe nhưng không khóc, chỉ cầu kinh. Cầu kinh kêu van cùng khóc lóc, là tình tự Chúa nói ở trình thuật, viết hôm nay.

Trình thuật hôm nay, là đoạn cuối Bài Giảng nghe Trên Núi, thật rõ nghĩa. Giảng trên núi, Chúa nói về đặc trưng/đặc điểm mà dân con đồ đệ, nay thường có. Đặc trưng/đặc điểm ấy, không thể đo lường mực thước điều mình nói hoặc làm, dù có là thánh. Thành thử, không thể ngồi “nghe chuông đổ”, rồi kêu cầu “Lạy Chúa!”, “Lạy Chúa!” suốt ngày là đủ đâu. Than van kêu cầu “Lạy Chúa!” Lạy Chúa!” suốt ngày, là kiểu nói/thói tục, bấy lâu nay.

Xưa nay, dân con nhà Đạo có để thì giờ ra mà kêu van hay đi nhà thờ nhà thánh, hoặc hành hương, làm tuần cửu nhật, sớm tối đọc kinh, kiệu rước linh đình… thì chưa chắc đã thể hiện được ý Cha. Có vị, còn chủ trương bói bùa trừ quỷ, giảng thuyết hùng hồn hoặc bày biện chuyện lạ giựt gân nhằm thu hút nhiều người, cũng chưa chắc để danh Cha được cả sáng.

Là dân con đồ đệ, đòi hỏi ta làm nhiều hơn thế nữa. Trước hết, nên nghĩ đến trách nhiệm hiệp thông liên kết trọn vẹn với Chúa. Liên kết trọn vẹn cả hồn xác, là thấm nhuần thần trí Đức Kitô. Là, biết suy nghĩ như Ngài vẫn suy tư. Biết nhận thức, thực hiện ý định của Ngài, trong mọi việc. Là đồ đệ đúng nghĩa, còn phải biết thực sự tiếp cận với ý định của Ngài nữa. Tiếp cận, trong tâm trạng tỉnh trí biết lắng nghe, hơn là nói nhiều và ê a nhiều, qua kinh kệ. Tiếp cận là để, khi giáp mặt Ngài vào giờ phút cuối, Ngài sẽ nhận ra mình, người đồ đệ thân thương vẫn chu toàn thánh ý của Ngài, trong cuộc sống.

Chu toàn thánh ý của Chúa, còn là tương tác với Ngài bằng bốn đặc trưng, như sau:

Trước nhất, biết lắng nghe xem Ngài dạy những gì. Chỉ làm được như thế, nếu biết tiếp cận Lời Ngài. Lời Ngài vẫn rõ ghi trong Kinh Thánh, cả ở Cựu Uớc lẫn Tân Ước. Đặc biệt là Tân Ước. Bởi, phần đông dân con nhà Đạo thường biết rất ít về Lời Ngài nói trong Kinh Thánh. Trong cuộc sống bận rộn, ít người chịu mở Kinh Sách ra đọc, và gẫm suy. Tuy nhiên, làm sao suy gẫm, nếu chưa bao giờ sở hữu đến một Cuốn. Có người còn nghĩ: vốn liếng về Đạo học được ở trường/vào giờ lễ, cũng quá đủ. Người khác lại nói: chỉ cần ta ăn ngay ở lành, làm đúng lương tâm đạo đức, đã là may. Thậm chí, đến như người có học, cũng còn biết rất ít về đặc trưng/đặc điểm ở tín thư Tin Mừng, nữa cũng nên.

Tiếp đến, cũng nên am tường những điều mình nghe biết, nơi Lời Ngài. Lời Ngài dạy, ta đã nghe và cũng đã có dịp đọc, nhưng không am hiểu ý nghĩa tóm gọn, bên trong. Thành thử, không thể am tường, nếu không có cố gắng. Làm sao cố gắng, nếu chỉ đọc và hiểu Lời theo tầm hiểu biết rất thô sơ, của chính mình. Đọc và diễn nghĩa bậy mà không được dẫn dắt, là điều rất nguy hiểm. Nguy hiểm, vẫn từng xảy ra qua nhiều thế kỷ. Lời Chúa, được viết vào thời buổi có văn hoá khác hẳn, thời hôm nay. Đọc Lời Chúa, mà không được giải thích dẫn dắt, thật khó mà hiểu cho thấu đáo. Chỉ đọc hời hợt/thoáng qua, ta dễ bóp méo hoặc thay đổi ý hướng của văn kiện. Thành ra, ta nên tìm đọc và học hỏi các sách chuyên sâu chú giải, mới hiểu thấu Lời Chúa. Và từ đó, mới thấy hữu ích.

Thứ ba, là có thái độ thuần thục chấp nhận và biết đồng hoá tiếp thụ những gì giúp ta hiểu biết thấu đáo Lời Ngài dạy bảo. Ta sẽ trở nên đồ đệ đích thực của Ngài, nếu biến suy tư của Đức Chúa thành suy nghĩ của chính ta. Như thánh Phao-lô có nói trong thư gửi cộng đoàn Phi-líp-phê: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi. (Pl 1: 21). Mối lợi với thánh nhân, là kết hợp trọn vẹn với Chúa. Là, tiếp tục sẻ san kinh nghiệm về Ngài với người anh người chị, trong cộng đoàn các kẻ tin.

Cuối cùng, lại như thánh Phao-lô, một khi ta đã đồng hoá/tiếp thụ trở nên thành phần suy tư điều mình đã nghe và hiểu, ta cứ theo đó mà hành động. Bởi, thánh ý của Chúa và suy nghĩ của ta khi đó đã trùng lập. Thị kiến của Ngài cũng trở thành cái nhìn của ta, như một. Như của ta. Là đồ đệ của Chúa và quyết làm theo Lời Ngài, không còn là vấn đề của ý chí, nữa. Mà là, nhìn thấy sự việc theo cùng một cách như Tin Mừng. Như Tony De Mello nói: “Tất cả là thái độ sống”. Khi thấy được sự sống và tương quan cùng một cách như Tin Mừng thấy, thái độ của ta sẽ dễ dàng tiến theo sau, rất tự nhiên.

Bài đọc một, nói đến chọn lựa của ta có thể là một chúc phúc hay nguyền rủa. Với Giao Ước Mới, giới lệnh đích thực không là điều răn có được từ núi Si-na-i; mà là, theo cách sống sự thật. Sống công chính. Và, sống trong yêu thương dựa trên sự kết hiệp tình yêu giữa Chúa và mọi người. Mọi người ở quanh ta. “Chúc phúc”/“nguyền rủa”, không là quyết định thánh thiêng của Chúa. Quyết định là quyết định, theo sau đáp ứng của ta với lời mời của Chúa. Nghe và làm theo lời Ngài, ta sẽ được bình an - hạnh phúc, ta hằng đeo đuổi. Từ chối không nghe/không làm, đem cho ta những âu lo nghịch thường, trong cuộc sống.

Bài đọc hai, thánh Phao-lô nhắc nhở ta hãy nên người công chính, việc này không do bởi ta có giữ luật Mô-sê truyền không, nhưng đây là quà tặng của tình yêu, nơi cuộc sống. Qua, sự thống khổ, cái chết và sự phục sinh của Chúa. Tin điều Chúa dạy, đó là ý định Chúa muốn ta nhận biết và có được niềm tin tươi mát. Nói cách khác, trở nên người công chính với Chúa, là do mình có quyết định tin - yêu trọn vẹn vào Đức Kitô. Chứ không do nỗ lực vẫn có nơi ta. Hiểu như thế, là theo đúng Tin Mừng của Chúa, hôm nay. Mọi việc ta làm, đều qua Ngài. Với Ngài. Và trong Ngài.

Sống, mà chỉ biết có kinh kệ hoặc vụ hình thức, những “chũm choẹ chập choeng”, chẳng khác nào như Chúa nói: “như người dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, gió cuốn bão ập vào, tất cả đề ra hư luống, đổ ào.” (Mt 7: 27). Đó cũng là trạng huống của các bạn đồng Đạo, những sống hình thức. Rất dễ ngã quỵ, trong hối tiếc. Nghe Lời Ngài, là biết sống trong sự thật. Rất yêu thương, đùm bọc. Rất nội tâm.

“Đừng thề với hứa, mà không thể thực hiện! Hãy biến những điều mình hứa hẹn và thề nguyện, thành hiện thực!” Điều này, vẫn thường xảy đến vào thời của Đức Chúa. Thời mà dân con trong/ngoài nhà Đạo vẫn cứ chỉ tay lên trời mà thề. Lập trường Chúa kêu gọi mọi người, vẫn là: đừng thề nguyền hoặc hứa hão. Cứ luôn sống trung thực. Trung thực như một kẻ tin, rất lương thiện. Rất đáng tin cậy. Lương thiện, không cần phải bảo kê lời mình nói. Không cần phải dẫn chứng Chúa lẫn Mẹ, mỗi khi nói. Cứ trong sáng. Trong sáng, như những người không có gì phải giấu.

Không phải là ít trong số những người Công giáo luôn nghĩ rằng: nếu mình giữ trọn 10 điều răn Đức Chúa Trời, đương nhiên trở thành người công chính. Lên thiên đàng thẳng rọt. Họ là những người, thường cứ nhất nhất một điều bối rối, hỏi rằng: việc này có là tôi? Có phản chống lề luật của Đức Chúa không? Công giáo đích thực, là người chẳng cần hỏi: việc đó có đúng luật, không? Mà, chỉ biết yêu Chúa qua các người anh người chị trong cộng đồng. Chỉ biết đến phục vụ và yêu thương, nhiều hơn nữa.

Yêu thương phục vụ, không là tự hỏi: mình đã thi hành đúng luật pháp chưa. Mà, luôn hỏi: ta làm như thế có đúng luật yêu thương, phục vụ người đồng loại không? Có cần yêu thương nhiều hơn nữa không? Trả lời được câu hỏi này rồi, thì đòi hỏi của những luật và pháp, cũng sẽ lọt tọt đuổi theo sau mình, mà thôi.

Hiểu như thế, ta quyết tay nắm tay, ra đi mà phục vụ kẻ khác. Phục vụ người. Như người vẫn hát:

“Đi với tôi đến chốn trời xa

Bên suối mơ là nhà của ta,

tay đàn miệng ca và mơ màng ta múa

Gót chân theo nhịp bước thần tiên

Có ai đâu vui như tôi

Tuy không có dài hơi

Người nào chán và buồn tình đời

Đều cùng yêu tôi.” (Canh Thân – Đi với tôi đến chốn trời xa)

Vâng. Khi đã quyết tâm như thế, ta cứ đi. Đi để thấy, đời rất đẹp. Thấy mọi người “đều yêu ta” và ta yêu người. Yêu ta yêu người, chứ không ê a Lạy Chúa, và không khóc. Dù khóc, khi nghe chuông đổ. Hay khóc, vì gọi Chúa mãi Ngài không nghe. Bởi than hay khóc, giống như người xây nhà trên cát. Rất dễ sụp. Rất mau chán. Chán sống. Chán cả yêu.

_______________Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.