Tuesday, 6 November 2018

“Anh gọi Xuân về, cho hoa trời bừng nở,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 32 thường niên năm B 11/11/2018
(Mc 12:38-44)

“Anh gọi Xuân về, cho hoa trời bừng nở,”
“Để cùng em tô hồng thắm trần gian.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)

Gọi Xuân về, hoa trời nở khắp trần gian, rất bừng sáng. Niềm tin về, trần gian bừng sáng thắm tình dân, suôt một đời.

Trình thuật thánh Máccô, nay gợi niềm tin-yêu bừng thắm có dân con mọi người được khích lệ hãy nghe lời Chúa phán định. Lời Chúa phán định ở trình thuật, thánh Máccô lại nói thêm về các hoạt động của Chúa vào cuối thời. Chúa hoạt động giảng rao Nước Trời có Lời phán về bà goá vẫn cho đi nhiều hơn lãnh nhận.

Truyền thống Do thái từ Đệ Nhị Luật, cho đến lời tiên tri Ysaya và thánh vịnh, đều dành ưu tiên cho bà goá, trẻ côi cút và người ở ngoài. Dọc suốt chiều dài lịch sử, danh sách những người được ưu tiên cũng đã được nới rộng. Trong danh sách, có tên những người từng trải nghiệm cuộc sống khó khăn qua biến cố mất việc, mất sức khoẻ hoặc mất người thân. Và, những người ở hoàn cảnh khốn khó, hiểm nghèo sống lạc loài cũng bị mọi người quên lãng. Những người như thế, thường vẫn bị tống xuất khỏi mạng lưới của tình thương-yêu hỗ trợ, cứ gặp bơ vơ, không người giùm giúp, đỡ đần.

Ở đây nữa, thánh Máccô lại nhắm thẳng đến thân phận goá bụa, đơn chiếc. Tiếng Hy Lạp và Do thái, có cụm từ “bà goá” là để nói lên sự yếu kém, bất toàn, không ai giúp. Bà goá, theo ngôn từ mê tín, bói toán lại mang tính chất một điềm gở. Ở Do thái, bà goá đôi lúc cũng được hiểu như mụ phù thuỷ, nhiều khi còn bị nghi là có tướng tá “sát phu”, thành quả phụ. Người như thế, chỉ sống nhờ bằng cậy nhờ, xin xỏ và hãi sợ mãi suốt đời.

Ngày 6 tháng 5 năm 2006, ở Lộ Đức, Pháp quốc có nhóm người tự gọi là “Nhóm Hy Vọng Vào Sự Sống” đã tụ tập nhau lại để bàn luận, nguyện cầu. Nhóm này, đa phần là các ông bà goá, lập ra từ năm 2000 đến năm này. Nhóm ấy, hiện diện ở 77 giáo phận trên khắp nước. Họ rơi vào cảnh tình tồi tệ như thế suốt từ hồi Thế chiến thứ 2, nghĩa là lúc đó, đã có 80 ngàn tù nhân chiến tranh và có sự thể là: khi họ bị bắt làm tù binh, thì người vợ của họ nghiễm nhiên trở thành người goá bụa.

Và, trên thực tế, nhóm người như thế lại trở thành nhóm hỗ trợ cho tổ chức gồm có dân con hiền lành của Đức Mẹ. Mục tiêu họ nhắm tới, là phụ giúp những ai mất đi người bạn đời nay muốn khôi phục cuộc sống qua niềm tin-yêu, quyết chuyển đổi đau khổ thành hy vọng. Chỉ trong năm đó thôi, đã có 700 người goá bụa, nam cũng như nữ, đã tụ tập nhau đi về hướng Lộ Đức. Các vị này, cứ 5 năm một lần, lại rủ nhau đi tới đó để gặp gỡ. Và từ đó, vị nào cũng cố gắng tìm thời gian tái hồi sinh lực hầu trở về với mọi người.

Theo nhóm này, thì khi có người bất chợt chia lìa xa cách, thì bạn đời ở lại sẽ thấy cô đơn theo kiểu mới. Cảm giác các người của họ, giống như đang rơi xuống vực thẳm của ngục tối. Tình cảnh này, nhóm hội cần có tình bằng hữu. Và, mọi thương tật nơi họ, lại trở thành dấu chỉ của phục-sinh. Nên, khi gặp người đồng cảnh ngộ, mọi người trong nhóm đã tìm ra được hương vị của cuộc sống. Tìm được nụ cười mà họ để mất. Và từ đó, đã sống lại sau nhiều đêm ưu phiền, thật tăm tối.

Tình thương không vụt tắt. Nhưng, vẫn kéo dài theo dạng thức mới. Bậc goá bụa nào cũng đều kinh qua tình cảnh sầu buồn, bi quan nghĩ mình chẳng thể nào về lại được với tình trạng vui sống như ngày trước.

Thế nên, một khi họ đã khám phá ra niềm vui trong tha thứ –tha thứ cả chính mình- và nhờ biết tha thứ, họ mới hưởng được hạnh phúc mới. Quả là, bậc goá bụa của nhóm “Hy Vọng Vào Sự Sống” nay đi vào cuộc sống rất đạo hạnh. Có vị trở thành linh mục, tu sĩ. Có vị lại quyết định tái giá sống vui cuộc đời còn lại với bạn mới. Tất cả, đều hiến trọn cho Chúa theo cung cách mới, mà chẳng cần đến hình thức bên ngoài. Và, trong phút chốc, Thiên Chúa đã thẩm nhập thành nguồn phúc hạnh rất mới hỗ trợ họ trải nghiệm.

Đức Giêsu gặp bà goá nghèo ở đền thờ, nơi cao sang giàu có. Đồ đệ Chúa khi ấy lại cứ mê mẩn với đền đài, khung cảnh hoành tráng những đá tảng, rất bề thế. Nhưng, Chúa đặt chân đến nơi này chỉ một lần. Và, lần đó Ngài chẳng quan tâm gì đến đá tảng hoặc cảnh quan khá nguy nga/hoành tráng, nhưng lại để tâm đến lối hành xử của bà goá nghèo, mà thôi.

Nhóm luật sĩ cùng ký lục cũng có mặt tại nơi này, ngày hôm đó. Họ súng sính trong bộ đồ lớn, rất long trọng, tựa hồ dấu chỉ của niềm vinh dự hiếm hoi, ít ai có. Dân con nhà đạo thấy họ đi vào đền, đều đứng dậy để tỏ lòng tôn kính, rất nghiêm trang. Trong khi đó, Chúa lại ăn mặc loàng xoàng, giản đơn và ngồi yên. Giới ký lục thời đó hành xử không như luật sĩ hoặc các nhà thần học, mà chỉ như các vị cố vấn tài chánh/thuế khoá, thế thôi. Đôi lúc họ cũng rút rỉa tiền bạc của chúng dân đến góp phần. Giới chức ở trên, dù không được lấy tiền do dân quyên góp, nhưng họ vẫn trông ngóng người góp quỹ sẽ hỗ trợ họ về tiền bạc. Nên, các vị đã biết khai thác tiền gom của dân lành/bà goá không rành rọt luật lệ. Dù, gọi đó là gây quỹ đền thờ, nhưng họ vẫn tìm cách nuốt trọn nguồn sinh sống của bà goá nghèo bằng những hứa hẹn sẽ đọc kinh cho các bà.

Hôm ấy, Chúa ngồi đối diện thùng tiền quyên góp. Ngài quan sát cung cách dân hiền bỏ tiền vào thùng đựng, như đồ bố thí, Ngài chẳng nói điều gì gây xôn xao, thắc mắc. Nhưng ngày nay, các nhà khảo cổ lại đã tìm được chứng 13 thùng tiền giống như thế, để dọc bờ tường của Đền thờ bị sập nát. Mẫu mã các thùng này, làm bằng kim loại nhẵn bóng, nên mỗi lần có người bỏ tiền vào đó đều nghe thành tiếng leng keng, inh ỏi. Bà goá nghèo, bỏ vào đó chỉ hai tiền kẽm, mỗi tiền trị giá 10% lợi tức cho mỗi tiếng đồng hồ của công nhân năng nổ, tức tương đương chỉ 1 đô, tính theo tiền bây giờ.

Bỏ thùng tiền chỉ bấy nhiêu, bà goá nghèo chẳng nhọc lòng dừng đứng mà suy nghĩ, nhưng bà cứ lẳng lặng tính nhẩm xem giá trị tiền mình bỏ vào đó, nó thế nào. Thánh Máccô viết chữ “chỉ đáng” ở đây, tức không nhiều. Nhưng Chúa thấy thế, lại bảo rằng: bà lão nghèo đã cúng tặng đền thờ nhiều hơn sức bà kiếm được. Điều này hàm ngụ ý tưởng, quyết bảo rằng: tầm mức quan trọng của việc bố thí, không nằm ở mức độ tiền bạc mà bà goá cho đi, nhưng là những gì còn sót lại ở nơi bà để sống.

Có thể là, bà goá hôm đó cũng suy tính: hay ta để đó rồi bọn giàu sẽ bỏ thêm cho đầy thùng. Cũng có thể, bà suy và tính theo kiểu của người nghèo vẫn nghĩ: một tiền cũng đủ, cần gì hai. Và cứ thế, bà lững thững bước đi trong trạng thái nguyện cầu, sâu sắc. Sâu sắc, theo cách bà thực hành.

Cung cách bà goá nọ làm, cũng là cung cách nói chứng tỏ, lời Chúa dạy. Chúa cũng cho, giống hệt như bà goá nọ. Ngài cho đi, trọn vẹn cuộc đời Ngài, gửi đến mọi người. Bà goá nọ cũng cho trọn vẹn số tiền giúp bà sống sót, tồn tại. Cho, là cho sạch, chẳng giữ lại chỉ một xu. Trong truyện kể thánh Máccô viết về những ngày cuối trong đời hoạt động của Chúa, có hai sự kiện liên quan đến phụ nữ. Một, là ở đoạn 14 câu 1 đến câu 11, kể về truyện Chúa được đổ dầu trút hết vào chân Ngài, là dấu chỉ Chúa cho đi trọn vẹn cuộc sống của Ngài để Ngài đi dần vào cõi chết, không lâu. Cung cách bà goá nọ cũng cho đi hết sạch, ở truyện kể, chứng tỏ rằng: Chúa đã “cho sạch” sự sống của Ngài. Điều này giống hệt 2 đoạn kết trong truyện kể do thánh sử Máccô từng ghi chép.

Truyện kể thánh Máccô ghi, cũng làm cho Giáo hội ta thêm phiền toái, nghĩ suy. Phiền ở chỗ, Giáo hội ta lâu nay vẫn cứ thực hiện xin tiền ở nhà thờ làm nhiều đợt. Xin tiền hoặc quyên góp ở đó, cũng có tông tích cũ xưa như việc cử hành thánh lễ vào thời cổ. Cử hành thánh lễ, như vào thời thánh Phaolô còn sống, mọi tiền/quà quyên góp được đều gửi thẳng đến tận tay người nghèo khó trong vùng, thánh Phaolô chẳng giữ lại một chút gì cho mình. Và, thánh nhân vẫn khước từ mọi tiền/quà góp nhặt cho riêng mình.

Sở dĩ thánh Phaolô khước từ, là bởi ông vẫn có thể sống sót bằng việc buôn bán đồ da, để trang trải tiền mướn và kiếm sống. Giả như ta có thể đề nghị với giáo hội, thay vì quyên góp đủ loại tiền vào giờ lễ, ta được Hội thánh góp tiền tặng không cho người dự. Nghĩa là, thay vì giáo dân góp bỏ vào dĩa số tiền mình bố thí, thì hàng giáo sĩ lấy tiền túi của riêng mình bỏ vào giỏ rồi phát không cho người dự lễ mang về. Chắc rằng người dự sẽ vui nhiều ngày, trong tuần.

Lời Chúa hôm nay, như con dao hai lưỡi, vừa để ca tụng bà goá, vừa chê bai nhóm thượng tế/ký lục chỉ nhắm vào giới nghèo là nạn nhân/con mồi, thôi. Trước cảnh đó, Chúa lại đứng về phía nạn nhân/con mồi, để rồi Ngài chỉ trích các vị cầm quyền, cả trong đền thánh. Ngày nay, con người có nhiều cách để khai thác/bóc lột giới nghèo hèn, tinh vi hơn. Có lao động nhiều, ta mới thấy dẫy đầy cảnh vua quan/lãnh chúa cùng đấng bậc chuyên khai thác/rút rỉa bằng hành xử kỳ thị, xách nhiễu không thua kẻ vũ phu, trùm sò. Nay, lại thấy khá nhiều người mang phận bọt bèo như bà goá, cả trong giáo hội. Thấy cảnh đó, người người mới nhớ lời Chúa nhắc nhở ở trình thuật, hôm nay 

Trong cảm kích cung cách Chúa hành xử và phán định, cũng nên ngâm lời thơ mới vừa hát:
            “Anh gọi Xuân về, cho hoa trời bừng nở,
            Để cùng em tô hồng thắm trần gian.”
            (Nguyễn Tâm Hàn – Gọi Xuân về)

Trần gian gọi, nay có Chúa đỡ nâng, giùm giúp. Trần gian nay sẽ gọi Xuân về để bừng nở. Nở hoa trời hồng thắm khắp dân gian, rất người mình.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch.

Tuesday, 30 October 2018

“Anh bâng khuâng, nghe Lời Tình réo gọi,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 31 thường niên năm B 04/11/2018
(Mc 12: 28b-34)
Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xađốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?" Đức Giêsu trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó." Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ." Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

“Anh bâng khuâng, nghe Lời Tình réo gọi,”
“Xoáy buồng tim, giọng hờn ngập không ghian.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)
Tình réo gọi hôm  nay, là cuộc tình Chúa vẫn rong ruổi, ở Nước Trời. Tình Chúa rong ruổi, để người người thực hiện thứ Tình Ngài trông ngóng dân con mọi người rày đáp trả.   

Trình thuật thánh Máccô, nay tiếp tục bàn về các thắc mắc của bạn đạo xin Chúa lời dạy hầu thi hành luật Do thái, rất Torah. Luật Torah, ghi nhiều điều rất chi tiết khó mà nhớ hết, nên bạn đạo nọ vẫn hỏi: “Điều nào cao trọng nhất trong các giới lệnh của Đạo?” Để đáp trả, Chúa tóm gọn bằng lời khuyên răn để đời: “Là, yêu Chúa và thương người”.

Yêu Chúa và thương người, giải phóng ta và đảm bảo cho ta một đời nhẹ êm, phúc hạnh, nhiều hy vọng. Lại nữa, khi suy tư chuyện này, giới lệnh của Chúa đã bảo đảm cho cả hiện tại lẫn tương lai mai ngày, chứ không chỉ là hy vọng thôi. Nhận thức như thế, thì chuyện Chúa dạy hôm, không ai có thể cưỡng chống được. Đó là điều, mà tôn giáo nào cũng coi đó như phương án giải phóng/cứu độ dựng xây trên nền tảng thương yêu. Thương yêu Chúa, là Đấng muốn ta làm thế, suốt mọi ngày. Trong đời.

Yêu thương Chúa, bắt đầu bằng việc “lắng tai nghe”, hệt như cụm từ “Shema” bên tiếng A-ram,  từng diễn tả. Tức là động thái mở tai và mở cả lòng mình ra mà nhận thức. Đây, là câu đầu của giới lệnh được ban hành trước tiên. Có lắng tai nghe Lời Chúa dạy, người người mới có thể đi vào quan hệ mật thiết với Chúa. Xem Chúa nói điều gì, để ta nghe theo. Và, ta có đáp trả theo cung cách rất riêng của mỗi người, không? Và, yêu thương Chúa, là yêu cầu đòi ta phải thực thi vào mọi lúc. Cả những lúc, Thiên Chúa là Tình Yêu đã đi bước trước để yêu ta. 

Yêu thương Chúa, là chọn lựa vốn có tự đáy lòng, vẫn thôi thúc ta có được ước ao những điều cao cả, ta chưa từng làm. Tức, biết yêu và đương yêu hết mọi người. Thông thường, ta vẫn chọn người tốt đẹp và đáng yêu nhất là chính Chúa, để làm trước. Yêu thương Chúa, còn là vào với tình bằng hữu Chúa dành để cho ta, và mọi người.

Nói cách khác, yêu thương Chúa không có nghĩa cứ bỏ cả đời ra mà “kiếm tìm” Chúa khắp nơi. Cho bằng, cứ để Chúa tìm đến với mình như gương mẫu cho mọi người bắt chước. Sự thật thì, trước khi ta đi tìm Ngài để yêu thương Ngài, thì chính Ngài đã quan tâm tìm đến ta và Ngài sẽ làm thế mãi muôn đời. Ta chẳng cần tìm, mà chỉ cần cảm tạ Chúa là hơn cả. Và cách hay nhất, cuối cùng là hết lòng cảm tạ vì Ngài vẫn thương ta, dù ta đã không làm thế.

Yêu thương Chúa, là thương yêu hết mọi người. Cả người cận lân, lẫn kẻ xa lạ. Yêu thương như thế, sẽ đưa ta vào với thứ tự của lòng bác ái, rất thương yêu. Đưa ta vào hệ cấp/phẩm trật của mọi thứ rất đáng thương, ở đời người. Yêu thương như thế, tức biết đặt thứ tự trên/ dưới, trước/sau cho các loại tình mà mình đương yêu. Yêu thương Chúa, là yêu bằng tình yêu đặt trên mọi danh sách, mọi thứ tình, ở đời. Là, đi thẳng vào trọng tâm của mọi sự, để rồi ta sẽ thong dong không còn ưu tư/lo lắng về mọi chi tiết lề luật. Thong dong, cả với Lề Luật, rất Torah nữa.

Ở đây, điều đó là một lạ kỳ, rất lớn lao. Lạ và kỳ, là ở chỗ: giới luật Yêu Thương Chúa, không chỉ là luật yêu thương người đồng loại trước nhất. Mà là, yêu thương chính mình trước đã, rồi mới thương yêu người đồng loại. Bởi, thương yêu chính mình, là ví dụ cụ thể. Là, chứng minh rằng mình có khả năng yêu thương người nào khác hơn là chỉ mỗi mình. Là, yêu bất cứ ai. Đó, chính là ý nghĩa của lời dạy: hãy yêu thương người khác, như thương yêu chính mình. Sự thật thì, ta chẳng thể yêu ai khác, nếu không thương mình trước đã. Cũng, không thể thương yêu họ theo kiểu Chúa thương ta.

Theo thiển ý, yêu thương Chúa là biết lắng nghe và đối thoại bằng tình bạn. Lắng tai nghe, để còn biết tình Chúa thương ta, không là tình ích kỷ hoặc thứ tình của Narcis “chỉ biết mỗi mình”. Đó, là tình bạn mà Đức Chúa, Đấng đã bỏ cả thời gian vĩnh hằng để thương ta. Để làm ta vui. Điều này, như có nói ở trình thuật, là thứ trò chơi khác hẳn luật lệ, hoặc nghi lễ tế tự, cầu nguyện.

Chúa thấy người bạn ở trình thuật nhận ra được thông điệp Ngài chuyển cho anh, nên Ngài bảo: “Anh không xa Vương Quốc Nước Trời là mấy!” điều này cũng giống như Lời Ngài còn nói với tay tội đồ bên thập giá: “Hôm nay anh sẽ cùng tôi về nơi Thiên Quốc.”

Yêu thương Chúa. Thương yêu chính mình, còn là yêu tất cả bạn bè người thân rất gần cận. Đây, còn là bài sai Chúa đưa ra. Là, giới lệnh mà đôi lúc ta thấy ngại khi yêu cầu mọi người yêu thương nhau như họ từng thương yêu chính họ. Nói như thế, là bởi ta không chắc họ có yêu chính họ rất nhiều, hay không.

Ở đời, nhiều người vẫn cứ tìm cách không yêu thương chính mình, sợ rằng thứ tình yêu ấy chỉ có với người lành thánh, mà thôi. Thật ra, không phải thế. Hãy yêu thương chính mình trước đã, rồi ra mình cũng sẽ nhận thức rằng: Chúa rất yêu ta. Và, Chúa sẽ cùng ta thương yêu những người gần cận, rất nhân loại.

Nhiều người nay lại dấy lên một thứ luật lệ về “trút sạch” để trói mình vào với yêu cầu biến mình nên “trống rỗng”, tức trở thành thứ “sắc sắc/không không”, hư vô, vô bổ. Thật ra, ta đã cảm kích thứ tình rất hay này rồi. Nhưng, mỗi khi ta ra đi mặc lấy cho mình cách này thì cuộc sống dần dà rất ít theo kiểu “trút sạch” hoặc “trống rỗng/hư vô”. Làm thế tức là ta đã khám phá ra rằng: nơi ta, đã có rất nhiều điều/nhiều thứ, mình không biết. Điều ấy, thứ ấy có thể là: Chúa vẫn yêu ta. Ta và Chúa cũng đang yêu thương hết mọi người, rất đương yêu.

Rất nhiều người, lại vẫn cảm kích/khích động về bí nhiệm của Chúa. Nhưng, huyền nhiệm nơi Ngài là sự thể cho thấy: tất cả những gì Chúa sở hữu, đều là và chỉ là chuyện Ngài đương yêu ta và ta được bao gộp vào với đối tượng của Tình Ngài với ta, và thế giới. Bên dưới tất cả những chuyển nhượng tình của ta đối với mình, và tình mình với mọi người, đó là Thiên Chúa, Đấng thuộc về ta rất vô hạn định trong bản-thể-rất-thánh mà Ngài ban cho ta.

Thương yêu chính mình, là cứ để như thế, vì Chúa. Cứ để Chúa yêu ta, rồi ra ta sẽ đạt mọi chuyện. Đôi khi, ta lại nghĩ: đó là giới lệnh trước nhất rất cao cả, so với mọi giới lệnh. Hiểu được thế rồi, ta sẽ vượt thắng mọi tranh cãi/biện luận về tính cách tự-hy-sinh hoặc tự-phát để trở thành sự thể đời mình. Tất cả không là gì khác, ngoài chuyện đó. Đó, là điều ta sở hữu nhiều hơn chuyện tự bằng lòng về những gì là tầm thường.

Và, đó cũng là sự thể để ta lướt vượt mọi bận tâm có thể có khi cái chết đến gần với ta. Lướt vượt cả mọi cấm đoán, huý kỵ và hạn chế trong đời người.
Trong tâm tình cảm thông sự việc cần biết và cần hiểu, cũng nên ngâm tiếp lời ca trong bài thơ rất mộng ở trên, rằng:

            “ Anh bâng khuân nghe lời tình réo gọi,
            Xoáy buồng tim, giọng hờn ngập không gian.
            Âm mơ hồ vọng tự cõi xa xăm,
            Tiếng réo gọi trả mình thời hoa mộng.”
            (Nguyễn Tâm Hàn – Âm Vọng)

Âm vọng của nhà thơ vẫn lờ mờ, nhưng vẫn thích. Âm vọng của bạn đạo từng hỏi, là vọng âm của tình tiết lặng câm, vẫn nằm trong lòng, nay xuất thành lời. Lời hỏi han. Lời vàng Chúa dạy, rất tình tiết.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch.

Tuesday, 16 October 2018

“Ô hay nhỉ, một thoáng mộng ngỡ mang thân Từ Thức,”


Suy Tư Chúa nhật thứ 29 thường niên năm B 21/10/2018
(Mc 10: 35-45)
 
Khi ấy, hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói:"Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây." Người hỏi:"Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?" Các ông thưa:"Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." Đức Giê-su bảo:"Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp:"Thưa được." Đức Giê-su bảo:"Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được."
Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân.Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."
“Ô hay nhỉ, một thoáng mộng ngỡ mang thân Từ Thức,”
“Mảnh hình hài dâng tặng trái tim tiên.”
(dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)

Mộng của anh, những mang thân Từ Thức. Mộng của người, lại muốn gần bên Chúa với bên người, nên quyết định. Quyết và định, như các thánh đã làm ở trình thuật, rất hôm nay.


Trình thuật hôm nay, thánh sử Máccô lại viết về thái độ rất “con trẻ” của tông đồ Chúa. Thái độ đây, là động thái bon chen, kèn cựa đòi chỗ cao. Nhưng, Chúa quyết phản bác thái độ ấy mà bảo: ai muốn làm đồ đệ đích thực, phải chấp nhận phận hèn tôi tớ. Như kẻ thấp hèn, bị bỏ bê như trẻ bé, tức: những người bị bóc lột, dày vò, hay thụ động.

Trình thuật thánh sử kể, nay được hiểu và nên hiểu như cung cách tháp nhập tầm kích thụ động lại cũng năng động, đi vào cuộc sống chân phương, rất đích thực. Lời Chúa, nay mời gọi mọi người hãy sống chân thật như trẻ bé”, để phục vụ mỗi người và mọi người. Có như thế, mới có thể hoạt động phục vụ Chúa nơi con người để phát triển cuộc đời.

Động lực khiến ta nên “trẻ bé/thấp hèn” hàm ngụ nhu cầu quân bình hoá đặc trưng khiêm hạ, tức: lối sống thấp hèn, với tính cao sang/trọng vọng, tức: có tâm hồn cao cả, rất lớn. Lời mời đây, lại mang ý nghĩa rất phải lẽ cứ đòi ta xử sự như người cao sang, trọng vọng. Bởi, như Chúa bảo: Ai muốn nên cao trọng, phải biết phục vụ, như trẻ bé!” Và, ai muốn nên trẻ bé, phải sống sao cho cao trọng. 

Thành ra, khó mà nên “trẻ bé” sống hài hoà, trọn hảo, toàn thiện. Lời Chúa mời, thoạt nhìn ra như nghịch ngạo, kình chống, cũng kích động. Nhưng, trình thuật hôm nay không muốn kêu gọi mọi người sống khiêm nhu theo kiểu dân con phục vụ và như trẻ bé. Lời Ngài mời gọi, không chỉ gửi đến bất cứ ai, ở nơi nào. Đúng hơn, lời mời gửi đến ta là mời ta sống sao cho có thể phát triển khả năng riêng tư đến cao độ. Phát triển rồi, lại sẽ sử dụng năng khiếu mình được tặng để phục vụ đúng cách mỗi người và mọi người. Đặc biệt, là người nghèo hèn, đang cần khả năng ấy, thấy cũng nhiều.

Vấn đề là, làm sao để có thể tháp đặt đặc trưng “khiêm hạ” vào với tính cao trọng, thật cũng khó. Điều thú vị, là: cụm từ “khiêm hạ” đối với mọi người, nghe vẫn dễ hơn cụm từ “cao sang/quyền thế”, rất là thế. Ngay buổi đầu, khiêm hạ ra như đặc tính rất “khắc kỷ” lâu nay vẫn được gán cho các thầy dòng  khổ tu sống đời đan viện, tức những vị những muốn xa rời đời sống tục trần để thực thi Tin Mừng Chúa nhủ khuyên. Xét tính cách xã hội và chính trị, đây là chuyện khá ư vô dụng, chẳng bổ ích. 

Đúng ra, đó là thái độ “bê tha/la cà” hơn đặc trưng/đặc thù đáng ta trân trọng theo nhãn giới hiện đại, trần tục. Khiêm hạ, là trạng huống tâm linh rất thấp bé, hèn mọn. Khiêm hạ, là trạng thái tâm tình dễ tác hại cả những người chủ trương sống như thế. Phần đông tu sĩ dòng khắc kỷ/khổ tu hay viết những chữ “luận thuyết/quyết tâm” nơi thang giá trị hoặc “khiêm tốn” để thực hành. Với văn chương thi tứ chốn dân gian, thì khiêm nhu/’khiêm hạ chả có gì khiến giảm hạ phẩm giá của mình hết. Chẳng cần biết, ta và mình có tìm sống khiêm hạ đến mức độ nào đi nữa, vẫn còn đó nghị lực tâm linh để vời đến. 

Cảm tạ Chúa, là ta vẫn nhận được ân lộc nhiều hơn thế. Bởi, người cũng như ta đều là những người cần thứ gì đó để dung hoà. Giả như ta có bị cuốn hút vào tình huống tư riêng, lọc lựa cho thích hợp để thăng tiến lên chốn cao sang/vị vọng, thì ta và người vẫn cần đến sự khiêm hạ đích thực khả dĩ giúp mình mở ngỏ lòng vơí khung trời rộng mở, mà phát triển. Bởi, như mọi người đều đã biết, tính cao trọng thực sự là tính chất rất “nhân chi sơ”, hơn cả đặc trưng khiêm tốn. Khiêm hạ/từ tốn, vốn chỉ là “bố thắng” hãm tốc lực cho người tìm đến những gì là cao sang, trọng vọng. Thế nên, đừng tưởng rằng “nhân chi sơ tính khiêm hạ”, sau đó thiên hạ và xã hội mới bổ sung cho vài ân lộc để thích nghi với tình huống đa dạng, để sống.

Khiêm hạ, ngay từ đầu vẫn giúp ta hướng về Chúa. Khiêm hạ, tự bản chất, là thái độ cũng rất Đạo. Bởi, so sánh với Chúa, ta chắc chắn chỉ là người con nhỏ bé, rất thấp hèn. Khiêm hạ, nhắc ta nhớ rằng: tất cả mọi sự tốt đẹp trong ta đều từ Chúa, chứ không phải do ta, hoặc bởi ta mà có. Nó tập trung nhấn mạnh, rằng: mọi sự tốt đẹp trong ta, là do Chúa. Nhận định theo cách đó, nó sẽ đưa ta vào đúng vị trí vẫn có và phải có trong vũ trụ vạn vật. Nó song hành, chứ không kình chống lại sự cao trọng. 

Nếu có quyết tâm sống khiêm hạ suốt cuộc đời, thì tự khắc sẽ đạt tính cao sang/vị vọng, ở muôn nơi. Tiếng Hy Lạp khi xưa gọi đó bằng từ “megalopsychia” tức tâm thần cao cả và to tát. To tát, ở chỗ: nó vực dậy và dưỡng nuôi hy vọng, rộng khắp. Nếu tính khiêm hạ cho ta biết về Chúa Cao Cả hơn tất cả, thì tính cao sang vị vọng lại diễn nghĩa cho ta hiểu rằng ta không là thành phần cao cả của giống người; bởi, ta vẫn có chút gì đó để góp phần vào sự cao cả của vũ trụ/vạn vật mà không loài nào làm được.

Trình thuật hôm nay, thánh Máccô mô tả cho ta thấy toàn bộ sự sống và ý nghĩa của Đức Giêsu, rất tốt đẹp. Trình thuật đẹp, ta có được là ở bản 70 bằng tiếng Hy Lạp. Ở đó, thánh Máccô kể lại sự kiện Chúa có nói: Ngài đến với thế gian không phải được mọi người phục vụ, mà là phục vụ mọi người. Và, thánh sử Máccô còn viết thêm rằng: Ngài đem chính mình ra mà làm chứng với dân con là đám “vô danh tiểu tốt”, vốn bị rơi rớt chốn lãng quên.

Diễn tả sự cao trọng đáng quý trọng nhất ở thời đại ta đang sống vốn được đặc trưng “khiêm hạ” khiến dịu êm, là tư tưởng đến từ Đông Âu. Người bất đồng đã vùng dậy từ nội bộ nhóm Sô Viết, của thời trước. Họ là những người đã cả gan dám chứng tỏ đặc trưng ngôn sứ để yêu cầu con người hãy biết tỏ ra mình là người biết sống cho phải lẽ cho con người; đặc biệt là những người từng bị chính quyền Sô viết thời đó áp chế tiếng nói của họ. Trong khi đó, tiếng nói của họ lại được lắng nghe ở nhiều nơi khác, rất cảm thông. Tiếng nói đó, còn là lập trường kiên quyết của các vị bất đồng chính kiến như Havel, Sakarov, Solzhenitsyn , vv.

Theo cách này, ta tìm ra được sự quân bình mà đôi lúc không thấy có nơi người viết; chẳng hạn như, sự việc tự biến mình thành “thùng rỗng”, rất trống vắng. Sự thể này, còn thấy được ở một số truyền thống Kitô-hữu vốn dĩ từng muốn làm sáng tỏ sắc thái của những lỗi và tội. Điều này, còn thấy rõ ở một số nhóm hội thuộc giáo phái Thệ Phản (đặc biệt là nhóm hội mang tên Luther) và một số nhóm hội khác thuộc Giáo Hội Đông Phương, và dĩ nhiên cũng lại thấy một số mạch chính trong Đạo Chúa. 

Điều này, cũng đã thấy ở một số triết thuyết và thần học tu đức vốn dĩ không tiến triển là do bản thân mình không dám vượt thắng thói quen, rất cố hữu. Tựa hồ như những người lại thích mùa Thu hơn mùa Đông và mùa Xuân, lẫn mùa Hạ, vì tính chất thi ca, mộng tưởng. Tính chất, rất ở ẩn trong bóng tối đen hiểu biết về Chúa, nên đã thấy thách đố nhiều trong tính chất thập giá, nơi mọi sự.

Đổi lại, có lẽ cũng nên nghĩ suy thêm về tính tích cực và /triệt để về mọi sự. Những sự như: Thiên Chúa là Đấng tạo dựng hết mọi loài, mọi người trong trời đất là để mọi người, mọi loài có quan hệ đẹp với Chúa, và đó không là sự trống rỗng, vô bổ. Ta cũng nên biết những điều đó, mà cảm kích để rồi sẽ không chối bỏ việc Chúa thực hiện những sự tốt đẹp cho ta. Vâng! Lịch sử và xã hội từng gây tổn hại nhiều cho “trẻ bé”, ngay từ gốc. Tuy nhiên, tổn hại ngay từ gốc không là sự hủy hoại tận gốc rễ, để triệt hạ. Nói tóm lại, trình thuật nay được thánh sử Máccô tập trung nhấn mạnh một điều, là: chính Đức Giêsu đã và đang yêu cầu mọi người trở nên như “trẻ bé” là theo nghĩa đơn giản như thế đó.

Xem như thế, các chủ đề về quan điểm “trở nên kẻ bé nhỏ” thánh sử đưa ra suốt những tuần qua, là để ta suy tư về tư cách “trẻ bé” theo nghĩa: bất xứng hợp thấy rõ; vượt quá hoang tưởng; cung cách bổ sung; bước đi theo Chúa; trở nên trẻ bé rất cao cả.

Thế nghĩa là, “trở nên trẻ bé” sẽ không có nghĩa: chống đối nền thần học của thập giá, mà là: nhìn vào thập tự đích thực của con người chứ không phải tưởng tượng, mà thôi.     

    
Trong tâm tình đó, tưởng cũng nên ngâm thêm lời thơ còn dang dở, ở trên mà rằng:

“Ô hay nhỉ! một thoáng mộng… ngỡ mang thân Từ Thức,
Mảnh hình hài, dâng tặng trái tim tiên.
Xa trần gian… xa vắng hết ưu phiền,
Giấc mơ tình tan vỡ, anh chao đảo giữa giòng đời …bỡ ngỡ.
Hồn mơ màng tìm lối mộng Thiên Thai.”
(Nguyễn Tâm Hàn – Này Em)


“Giấc mơ tình tan vỡ”. “Chao đảo giữa giòng đời”. Tất cả, vẫn chỉ vì người đời quên mất Lời của Chúa vẫn cứ dặn: hãy nên “trẻ bé” mới mong “ xa vắng hết ưu phiền”. Và, cũng chẳng “mang thân Từ Thức”, rất truân chuyên. 
                    
Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –
Mai Tá lược dịch.