Thursday, 4 April 2019

“Hãy áp môi trên phiến đá mòn,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh năm C 21/4/2019

“Hãy áp môi trên phiến đá mòn,”
“Loài hoa mộ chí cánh thoa son.”
 (dẫn từ thơ Đinh Hùng)
Ga 20: 1-9; Lc 24: 13-35
Phiến đá mòn, nay bật nắp để lộ “Loài Hoa Mộ Chí” vẫn còn sống. Hoa Mộ Chí, đã trỗi dậy tỏ bầy cho mọi người biết Chúa vẫn ở với anh và với em suốt mọi ngày. Trình thuật thánh Luca kể về tâm tình ngày Chúa Sống Lại đã chuyên chở cùng một tâm tình, giống như thế.

Trình thuật Phục Sinh, các thánh đã thấy dấu hiệu của bình minh xuất hiện trên bầu trời ở phía Đông. Nhưng, không để báo hiệu một ngày mới sẽ nối tiếp, cho bằng nói lên loại hình tạo dựng rất tân kỳ. Tân kỳ, là ở chỗ: nếu hỏi mọi người: theo họ, Đức Giêsu giống loại người nào khi Ngài sống lại từ cõi chết, hẳn sẽ có người bảo: Ngài giống nam-hoa-hậu Vũ Trụ. Và sẽ có nhà tâm-lý-học nào đó cũng đặt câu hỏi: quý vị lấy ý tưởng này ở đâu ra? Phải chăng nói thế là muốn mình được như vậy?

Xưa nay, Kinh Sách và nhất là thư thánh Phaolô đem đến cho ta câu trả lời rồi. Kinh Sách ám chỉ rằng: Đức Giêsu đem những điều về nỗi chết của Ngài đưa vào sự sống đã trỗi dậy. Như thế có nghĩa: Ngài đã duy trì những thứ đó và biến nó thành một thứ gì tích cực, lành lặn để rồi Ngài tháp nhập tất cả mọi người vào con người của Ngài.

Phục sinh, không là chuyện lấy nước nóng tẩy sạch mọi bợn nhơ trên mình Ngài và loại bỏ những gì đến với Ngài trong đau khổ và nỗi chết; tức: thứ gì đó đối chọi giữa sự chết và sống lại. Bởi, cả hai đều tuỳ thuộc lẫn nhau thành từ ngữ để ta hiểu.

Thánh Phaolô sáng chế ra cụm từ “Đức Kitô-chịu đóng đinh” có gạch nối ở giữa. Và khi nói đến Đức Kitô, là thánh-nhân nói về Đấng đã trỗi dậy. Và khi nói đến Chúa trước ngày Ngài Phục sinh, là thánh Phaolô lại đã gọi Ngài là Đức Giêsu. Ở tiếng Hy Lạp, thánh-nhân dùng cụm từ “estauromenos” bên cạnh tên tuổi “Đức Kitô”, tức có chữ gốc “Stauros” mang ý nghĩa của thập giá. Nên, cụm từ này có nghĩa: giá trị của thập giá và nỗi chết được viết chung vào sự “trỗi dậy” trở thành “Đức Kitô-Phục Sinh”.

Ở đây, ta nói đến giá trị của chữ nghĩa hoặc triển khai bản vị mà Đức Giêsu cảm nghiệm thực sự khi Ngài chịu đóng đinh trên thập tự, chắc chắn Ngài không thể nào cảm nghiệm khác hơn thế. Tức, cảm nghiệm ấy không biến mất đi khi Ngài sống lại. Tất cả vẫn gồm tóm nơi Ngài, đóng ấn trong Ngài và sẽ còn kéo dài đến vĩnh cửu. Tất cả là thành phần gói gọn trong ý nghĩa đó.

Điều này còn có nghĩa: khi trỗi dậy từ cõi chết, ta không gỡ bỏ được những gì xảy đến trong cuộc sống khổ đau hoặc kinh nghiệm mà cái chết mang đến cho ta. Kết quả là, ta đã trở thành con người khá hơn, tốt lành hơn. Và, sự trỗi dậy vẫn cứ duy trì hết mọi thứ và khiến cho chúng rõ ràng hơn vào mọi lúc.

Có người còn gọi Đức Kitô-Phục sinh là Đấng có “dấu thánh” đặc biệt. Nhưng, điều đó không có nghĩa: vết thương thân mình Ngài vẫn nguyên vẹn hình dạng trên Ngài cách thể lý. Nhưng ý nghĩa đích thực, là trọn vẹn con người và bản thể Ngài vẫn còn ghi dấu khổ đau Ngài canh cánh bên lòng, vì yêu thương người phàm.

Đức Mẹ cũng thế. Khi Mẹ về trời bằng vào Phục sinh, ta cũng thấy được nơi Mẹ tất cả những gì Mẹ lãnh chịu do tình thương yêu còn đó, theo cung cách nào đó, không là thể lý, xác phàm mà là giá trị thần khí nơi bản vị của Mẹ. Chính vì thế, mà thánh Phaolô lại nói về tình trạng chết chóc, trống rỗng của Đức Giêsu -tức “kenosis” tiếng Hy Lạp- và thánh-nhân coi sự việc ấy cũng một dạng theo thể trạng của Đức Kitô-Phục Sinh. Điều này làm ta cảm kích và suy ra rằng ta đi vào với hỗn độn như tình trạng của nỗi chết hoặc những gì tương đương, nhưng được gộp vào tình trạng trỗi dậy sống động của Chúa.

Đó là lý do khiến ta nói đến Đức Kitô-Phục sinh, tức: Ngài hiện diện trong vũ trụ. Ngài không chỉ ở với chúng ta, mà còn như Đấng đã vượt khỏi ta nữa. Ngài trỗi dậy trong ta và ở trong trạng thái có nỗi chết của chúng ta. Ngài sờ chạm và chữa lành mọi khốn khó do bạo động của vũ trụ. Ngài là Đức Chúa  chữa lành hết mọi người, mọi vật.

Ngài đã vuợt quá giới hạn không gian và thời gian trong vũ trụ của ta. Ngài không ở ngoài không gian và thời gian như thế, nơi vũ trụ. Ngài ở trong tất cả. Trỗi dậy với ta và trong ta, đã là tất cả. Đó là hiện hữu bí nhiệm, tuyệt diệu. Chính đó là sự thực của hiện hữu. Sự thực ấy, còn thực tế hơn cả mọi hiện hữu ta cảm nghiệm được với nhau, trong nhau. Ta không cảm nghiệm sự thể giống như thế và như thế là do giới hạn của không gian và thời gian ta đang sống cho đến ngày đi vào cõi chết.

Đến ngày đi vào cõi chết, ta được cởi bỏ khỏi mọi giới hạn của thời gian và không gian. Và khi đó, toàn bộ hữu thể của ta sẽ tràn ngập kiến thức và tình thương yêu đối với Đức Kitô-Phục sinh đang trỗi dậy trong ta. Nói cách khác, ta đang được sẻ san với sự Phục sinh của chính Ngài.

Đức Giêsu trỗi dậy khỏi nỗi chết, Ngài cảm nghiệm theo tính chất người phàm mọi hiểu biết về chính Ngài, về Cha và về tất cả chúng ta, theo cung cách Ngài chưa từng làm thế, trước đó. Ngài biết rõ chính Ngài, biết Cha và biết chúng ta theo cung cách rất mới mẻ. Khi ta chết và trỗi dậy ở trong Ngài, sự thể cũng sẽ hiện ra như thế đối với ta.

Thế nên, Phục Sinh là lễ hội của sự trỗi dậy nơi Ngài và nơi ta. Phục Sinh, là chân trời căn bản ta được mời gọi sống trong đó. Không có chân trời nào khác lại có thể đối đầu với bí nhiệm của sự chết đến như thế. Và, đó là cung cách đầy chết chóc để mà sống. Toàn bộ sự sống động của ta, nay mang ý nghĩa một trỗi dậy. Không chỉ là sự sống động trong Hội thánh, mà thôi, nhưng cả sự sống động theo cung cách phàm trần nữa.

Ta hiểu được mình sống trong sự nhận thức rất chắc chắn rằng không ai bị loại bỏ khỏi sự sống có trỗi dậy. Không có vấn đề để bảo rằng: không gì được chữa lành mà không đi vào sự sống có trỗi dậy. Không vết tích nào của sự sống lại mà không kết thúc trong sự sống có trỗi dậy được. Điều đó giúp ta thực hiện chữa lành bạo lực và nỗi đớn đau, sầu buồn của người đồng loại trong thế giới thực tại ta đang sống cùng và sống với.

Phục sinh là viễn tượng của niềm tin đang sống thực tại, trong hiện tại. Ta không chỉ tin rằng Đức Giêsu đã trỗi dậy khỏi mộ trống mà thôi, nhưng còn tin rằng ta có thể ra khỏi con người mình, ngay lúc này. Đó mới là niềm tin. Chính đó mới thực sự là tin và kính một niềm tin chính đáng.

Trong cảm nghiệm niềm tin như thế, cũng nên ngâm tiếp lời thơ đã cất lên từ đầu, rằng:

            “Hãy áp môi trên phiến đá mòn.
            Loài hoa mộ chí cánh thoa son.
            Vầng trăng đáy huyệt xanh trong mắt.
            Nghe biển mưa sao, gió gọi hồn.”
            (Đinh Hùng – Trái Tim Hồng Ngọc)

Biển mưa sao, gió gọi hồn, là hiện tượng Chúa cùng ta trỗi dậy. Trỗi dậy trong Phục sinh thực tiễn vẫn rất thực, ở chốn đời thường.
Lm Kevin O’Shea, CSsR
___________________________________________________________________________________________________________

“Dáng em thu nhỏ trong lời nguyện”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá năm C 14/4/2019
(Lc 22: 14-23, 56)
Khi giờ đã đến, Đức Giêsu vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người. Người nói với các ông: "Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa."

Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến."

Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy." Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: "Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.

"Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người." Các Tông Đồ bắt đầu bàn tán với nhau xem ai trong Nhóm lại là kẻ toan làm chuyện ấy.

“Dáng em thu nhỏ trong lời nguyện”
“Phơ phất hồn thiêng cánh bướm ma”.
Gót nhỏ lên thuyền một kiếp xưa,
Em về trăng mọc bến chân như
Người em hơi thở say mùi huệ
Mây trắng vương buồn mắt thái sơ.”
(Đinh Hùng -  Trái Tim Hồng Ngọc)

Trình thuật thánh Luca, nay kể đôi điều hơi lạ về cuộc thống khổ của Chúa trong giai đoạn chót ở đời người, như đã chép. Điều hơi lạ, còn ở chỗ thánh sử kể về tâm trạng Chúa trầm tĩnh lặng thinh, như tâm tình đồng thuận. Trong khi thánh Mátthêu và Máccô kể về Chúa trong trạng thái ới gọi Cha Ngài đến cứu, rồi thổn thức: sao Cha nỡ bỏ Con, còn lẩn tránh. Trong khi, thánh Luca viết về tâm tình Chúa thinh lặng nguyện cầu là Ngài cốt đặt mình trong tay Cha, Đấng mà Ngài hết lòng tín thác.

Ngoài ra, thánh Luca còn đưa cái chết của Chúa vào với truyền thống văn học La Mã và Hy Lạp mà người người vẫn gọi đó là “cái chết rất quí tộc”. Nói cách khác, thánh Luca xem nỗi chết của Chúa tựa hồ như cái chết của người La Mã hoặc Hy Lạp rất tốt lành. Sự chết chóc, song hành với nỗi chết của nhà hiền triết Socrates.

Như nhà hiền triết Socrates, Chúa chấp nhận cái chết trờ đến, nhưng Ngài không từ khước. Và, nhờ vào cái chết cao sang, “quí phái” như thế, Ngài thứ tha hết mọi chuyện của con người. Ngài không hãi sợ, cũng chẳng vãn than, âu sầu, thảm não khi giáp mặt với nỗi chết, thống khổ. Tựa hồ nhà điền kinh từng chuẩn bị kỹ lưỡng mọi chuyển biến đến với mình, Ngài vẫn sẵn sàng.

Ngài còn đổ mồ hôi lấm bết những máu lúc Ngài tiến về phía trước, hầu đón nhận cái chết thực sự đang đi đến. Bằng vào động thái này, Ngài chứng tỏ cho mọi người chúng ta biết thế nào là sống vinh quang, chết cao cả.

Cái chết của Chúa, nhìn theo cách này, lại đã mang ý nghĩa của mẫu gương lý tưởng hầu giúp ta đi vào đoạn kết của cuộc sống, rất sẵn sàng. Và, đó cũng là ảnh hình về cái chết của Phó tế Stêphanô từng được chứng minh ở sách Công vụ.

Người đọc bài “Thương Khó theo thánh Luca” hôm nay có thể hiểu cung cách mà thánh Luca trình bày về cái chết của Chúa và của chính cá nhân mình, tức là cái chết của đấng thánh hiền quyết tâm chết cho Đạo, vì Đạo. Quả thật, Đức Chúa là Đấng đã chết cho Đạo theo cung cách rất lý tưởng. Ngài chết, là để chứng tỏ rằng Ngài tin vào những điều Ngài từng nói nên đã làm. Làm như thế, không có gì đáng trách.

Và, không có trường hợp nào xảy đến để người đời kình chống Ngài. Dưới tầm nhìn của người La Mã, Hy Lạp cũng như Do thái và của Kinh Sách, Ngài là Đấng anh minh, công chính vẫn rất mực. Ngài hứa đem cõi trời thiên quốc đến với những ai yêu cầu Ngài.

Ngoài ra, Ngài cũng là Đấng Tẩy trừ hết mọi sự. Tẩy và trừ, mọi quyền uy/bạo lực và những gì xấu xa mà người đời vẫn tìm cách áp đảo kẻ vô tội, yếu kém, bất bạo động. Kẻ vô tội, là người có quyền uy lạ lùng để tẩy và trừ mọi tội lỗi.

Thánh Luca nhìn Chúa chết lặng trên thập tự nhưng, qua đó, Ngài lại đã thiết lập nên loại hình cộng đoàn rất ư đặc biệt. Chính cộng đoàn dân con Chúa cũng đã hết mình xả thân nguyện cầu và quyết sống theo ý Chúa; sống học hỏi kinh thánh, chăm lo cho người sống ngoài lề xã hội, quyết tạo nơi đặc biệt cho các vị nữ phụ mộ đạo vẫn được dân con trong Đạo coi như nhóm người rất đáng kính trọng.

Cùng một lúc, thánh Luca còn thấy nơi thành viên cộng đoàn dân con Đạo Chúa như người hôm nay sẵn sàng với “cái chết quí phái” là chết cho Đạo, vì Đạo nếu cần. Bởi, cũng như Đức Giêsu, dân con Đạo Chúa tin vào những gì mình nói và hành động, rất căn bản.

Trình thuật buổi kiệu rước đón Chúa Vượt Qua, thánh Luca mô tả Chúa đi về Giêrusalem không bằng xe tứ-mã hoặc song-long dát vàng rực sáng. Ngài cũng chẳng uy nghi ngồi trên ngựa như bậc tể tướng thời đế quốc. Không thấy vua quan vương quyền, xưng hùng xưng bá ở đâu quanh quất khi Ngài đến. Ngài đến, chỉ như nông dân tầm thường ngồi trên lừa, đi chậm rãi. Phía trước Ngài, không là đám kỵ mã “vũ khí đến tận răng”, mà chỉ đôi ba lũ trẻ nhỏ vui đùa, chạy nhảy.

Đi theo Ngài, lại chẳng là đám quan quyền/phục dịch sẵn sàng nhận bàn giao việc hành chánh/quản trị, mà là đám dân thường tâm huyết biết rõ Ngài hoạt động cho họ, ở với họ. Đó, là cách Chúa hiện thực giữa họ theo kiểu cách rất con người.

Tất cả mọi người nhất mực tin rằng Vinh quang Chúa nay thể hiện trọn vẹn qua việc Ngài “cho đi” chính mình Ngài với phẩm chất rất người. Họ không tin Chúa đưa vinh quang ấy vào chốn không lối thoát.

Nhưng vinh quang Ngài vẫn diễn tiến theo cách cao sang, rất quí tộc. Họ tin rằng vinh quang ấy nay trở thành mẫu gương quyết định nơi con người của Chúa bằng xương bằng thịt; và nơi việc Ngài thực hiện công cuộc “Vượt Qua” tại chính Giêrusalem này. Đức Giêsu Kitô Con Thiên-Chúa, nay đi vào thành thánh Giêrusalem của Chúa, đó là thời khắc để dân con mọi người cử hành mừng kính lễ Vượt Qua đích thực, cho đời người.

Đọc Tin Mừng Thương Khó theo thánh Luca, người đọc sẽ nhận ra một đôi chi tiết không thấy có ở nơi nào khác. Không thấy, cả trong Bài Thương Khó theo thánh Máccô vốn là nguồn Tin Mừng giúp thánh Luca có hứng mà ghi chép. Đôi chi tiết ấy là:

-Vai trò của người dân ở Giêrusalem trên đường thánh giá Chúa đi ngang, đặc biệt là giới phụ nữ sống ở Giêrusalem;
-Lời Chúa trên thập tự cầu Cha tha thứ cho kẻ bách hại Ngài vì họ không biết việc họ làm;
-Đối thoại giữa hai tử tội treo cạnh thập giá Chúa;
-Chúa quả quyết với tên tử tội đã tỏ lòng hối cải;
-Lời cầu vào lúc cuối của Đức Giêsu: Lạy Cha, con xin dâng phó hồn con trong tay Cha;
-Đối đáp của quần chúng chứng kiến cảnh Chúa chịu chết trên thập giá.

Trong khi đó, thánh Luca lại đã thay thế một số dữ kiện tìm gặp ở trình thuật thánh Máccô, đó là:

-Lời thú của viên bách quản khi thấy sự việc diễn tiến rất rõ ràng: anh không là con dân của Đức Chúa nhưng chỉ là người tốt, rất biết chuyện.

Ngoài ra, một số chi tiết thấy xuất hiện ở Bài Thương Khó theo thánh Máccô, nhưng thánh Luca lại đã bỏ sót, là:

-Trình thuật có qui một số điều về thân phụ của Alexander và Rufus;
-Tên gọi đồi Golgotha;
-Rượu và nhựa thơm;
-Giờ thứ ba;
-Tử tội treo cạnh thánh giá Chúa, lại là các tay ăn trộm;
-Người qua đường nhìn vào cảnh tượng đang diễn tiến, rồi cười chê; 
-Lời Chúa khóc than kêu cầu, cứ nghĩ Cha Ngài bỏ rơi.
           
Tựu trung, thánh Luca tuy có dựa vào văn bản gốc về Tin Mừng Thương Khó do thánh Máccô thuật lại, nhưng thánh Luca vẫn diễn tả mọi việc theo phong thái của riêng mình.

Lm Kevin O’Shea, CSsR
________________________________________________________________________________________________________________

Tuesday, 2 April 2019

“Em còn đó, xoã lòng đêm tóc rối,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật Thứ Năm Mùa Chay năm C 07/4/2019

Khi ấy, Đức Giêsu đến núi Ôliu. Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người:
"Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?"

Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ:
"Ai trong các ông sạch tội,
thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi."

Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói:

"Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?"

Người đàn bà đáp:
"Thưa ông, không có ai cả."

Đức Giêsu nói:
"Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu!
Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! "
oOo

“Em còn đó, xoã lòng đêm tóc rối,”
“Tôi đứng đây bụi lốc mịt mù xa.”
 (Dẫn từ thơ Vương Ngọc Long)

Ga 8: 1-11
Tóc vẫn rối, chắc hẳn lòng em cũng thêm rối? Rối tơi bời, nhưng người đời chẳng bận tâm. Thế đó, một tâm tình nhiều ý nghĩa đã thấy nơi trình thuật thánh Gioan viết hôm nay.

            Trình thuật thánh Gioan nay viết, là viết về nữ phụ nọ bị cho là lăng loàn, tội lỗi, rất ngoại tình. Trình thuật hôm nay, là một trong các đoản khúc độc đáo của thánh Gioan, chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ 3, mà thôi. Các nhà chú giải kinh thánh cho rằng: đoản khúc này do cộng đoàn Luca thời tiên khởi đã đưa vào văn bản của thánh Gioan, vì lầm lẫn. Cũng có thể, các vị chép Tin Mừng lại cứ nghĩ Đức Giêsu xử tội nữ phụ ngoại tình ở trình thuật hơi nhẹ tay, dù kinh điển luật Do thái có ghi rõ.

Rõ ràng, trình thuật nay cho thấy cộng đoàn xét tội loạn luân chỉ mỗi nữ phụ thôi chứ không bắt giữ người đồng phạm. Loạn luân hay ngoại tình, đâu là hành xử chỉ một mình. Đây, rõ ràng có bất công, kỳ thị và thành kiến. Nữ phụ trong truyện, vẫn đại diện cho lớp người bị xã hội cổ xưa chê trách, phỉ báng, không chấp nhận. Xã hội mọi thời lại cũng coi thường, kết tội và chối bỏ phụ nữ dưới trướng mọi nam nhân. 

Xã hội Do thái còn cách ly, bỏ tù và trừ khử các nữ phụ, để giữ mặt cho phe nhóm của họ. Trình thuật hôm nay, cho thấy: bằng vào việc sẻ san nỗi tức bực của kẻ giả hình và biến chuyện sống cung cách giả hình thành luật đối với cộng đoàn ở đó. Thế nên, phụ nữ xã hội này vẫn bị sử dụng cho mục đích tựa như thế. Và lần này, người đọc cũng như người kể, đều chuốc vào mình sự tức bực, giận hờn của phe nhóm/xã hội thời buổi ấy. Đó, còn là động thái của người sống vào thời buổi trước. Thế còn, xã hội hôm nay thì sao? Xã hội, nay thấy khá nhiều hành xử bất công với phụ nữ, vẫn không dứt.

Xưa nay, phụ nữ luôn là nhóm người không những thiệt thòi đủ điều, lại bị dồn vào chân tường khiến họ phải sống bên lề xã hội. Như di dân/người ngoại cuộc, phụ nữ không đủ tư cách để có được vai vế đáng kể trong bất cứ cộng đoàn nào ở Do thái. Họ bị coi như hiện thân của nỗi nhục phải sống trong xã hội do nam nhân khống chế, toàn trị. Trình thuật, nay còn mô tả nhóm người kết án nữ phụ phạm lỗi ngoại tình, họ đều là nam nhân. 

Không thấy trình thuật kể tên của nữ lưu nào trong đám người lên án hoặc xét xử chị ta hết. Sở dĩ, nữ phụ hôm ấy bị coi là có tội vì chị đã phạm vào niềm tin của mọi người về hôn phối. Và, một lần nữa, vụ xử riêng chị lại được đem ra ánh sáng, trước chúng dân toàn nam giới là để gài bẫy xem Chúa xử thế nào.

Sách Đệ Nhị Luật đoạn 22 đòi bất cứ nữ phụ nào phạm tội ngoại tình đều bị đem ra ném đá cho bằng chết. Thời Chúa sống, giới cầm quyền La Mã chừng như đã truất bỏ quyền hạn của người Do thái không được phép lên án chết trong trường hợp tương tự và một vài trường hợp khác giống như thế. 

Bởi thế nên, khi Chúa bảo:
“Ai nghĩ mình vô tội hãy ra tay trước đi…” là Ngài tự đặt mình vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” hoặc chối bỏ luật Môsê hoặc đả phá luật của La Mã. Nếu làm như thế, hẳn Ngài tỏ cho thấy Ngài cũng khát máu như nam giới trong làng đòi Chúa giữ cả luật Do thái, La Mã và lệ làng của vua quan tự cho mình có văn hoá, văn minh? 

Xem thế, thì ở đây có đến hai phiên xử: một phiên xét tội nữ phụ bị lên án chết do đám người cho rằng chị đã phạm luật. Còn, phiên kia đặt Chúa vào tình thế xét nghiệm, thử phổi để xem sao. Giả như Chúa không trả lời được vấn nạn do họ đặt ra, hẳn Ngài cũng bị xử chết hệt như nữ phụ ấy. 

Nếu quả đúng thế, thì thiết tưởng cũng không nên gọi nữ phụ nọ là người “bị bắt quả tang phạm pháp”, mà chỉ nên coi chị như người bị án tử đang chờ ngày hành quyết. Hai phiên xử, được nghệ nhân tên Lucas Cranach vẽ lên hình ảnh giống như tranh của Rembrandt về người con đi hoang, nay trở về. Cả hai bức tranh, được trưng bày tại bảo tàng viện St Petersburg cốt để giúp mọi người có chất liệu mà suy tư vào mùa Chay.

Bức tranh đây cho thấy: đám nam giới chủ toạ buổi xử đã kết án nữ phụ nọ vì chị vi phạm tội đáng chết, nhưng họ vẫn chờ Chúa cho ý kiến, để còn tính. Trong khi đó, Ngài lại bảo: “Ai nghĩ mình vô tội hãy ra tay trước đi...” 

Theo lệ làng, vị cao niên nhất sẽ ra tay ném đá trước; nhưng ở đây, vị ấy lại là người đầu tiên rút lui có trật tự, để mọi người cũng dấn bước, tiếp theo sau. Và, vụ xử bị đình chỉ, vì chẳng ai ra tay giải quyết, nên án này bị huỷ. Còn lại tại hiện trường chỉ thấy mỗi Đức Giêsu và tử tội, tượng trưng cho niềm khổ đau và lòng thương xót. Nhưng hỏi rằng: sự thể như thế có là đau khổ hôm nay không? Và, lòng Chúa xót thương vẫn là sự thương xót, suốt mọi thời đấy chứ?

Lại nữa, điều gì xảy đến trong lòng người nữ phụ buổi hôm đó? Và, nếu bảo rằng chị biết mình đã làm quấy, nên không cần ai nói cho chị biết gì thêm; và không chối bỏ điều đó. Chị thêm mỗi lo: sao là phụ nữ, chị bị coi như trò đùa của thiên hạ, về mọi việc. Chị không thấy căng thẳng, cũng chẳng đắng cay/khổ não mà chỉ mong sao để không còn nhớ chuyện cũ, và được ân xá. Chị là nữ phụ bị công luận ghen ghét, dè bỉu vì biết rõ tội trạng của chị. Họ không giết chị ngay lúc đó, nhưng chị cũng không thể sống với họ ở xã hội hoặc nơi nào mà câu chuyện về chị vẫn tiếp tục được kể cho thiên hạ nghe. 

Theo tầm nhìn của xã hội cứ vin vào lề luật, thì chị như người đã chết hoặc người mắc nợ xã hội, mãi thiên thu. Chị khác nào người cùi/hủi bị đẩy lùi khỏi chốn dân gian sinh sống, giống những người không chốn dung thân. 

Nói tóm lại, vì họ, mà chị nay không thể quên những chuyện do xã hội của nam giới chuyên khuynh loát, khống chế phụ nữ. Dù có ai khuyên chị hãy quên đi chuyện như thế, có nhớ cũng chẳng làm được gì, nhưng chị thuộc lớp người không thể quên được chuyện có liên quan cả đời mình. Và những người xét xử cũng không quên được tội trạng của chị nữa. Thế nên, chị thấy không có lối thoát, và chẳng có gì giúp chị ra khỏi ngõ bí.

Nhưng, có một giọng nói trước nhất không nói tất cả mọi sự cho chị biết, mà chỉ cho người lên án Chúa thôi. Sau đó, mới hỏi chị xem có biết và có hiểu rằng: chẳng ai lên án chị hết! Và giọng ấy còn cho chị biết rằng: Đức Chúa lòng lành không bao giờ lên án chị. Theo cách nào đó, điều này nghĩa là chị đã được thứ tha, trước khi những người kết án chị bỏ đó mà đi. 

Tận tâm can, chị biết Chúa không lên án chị. Và, ngay khi ấy, chị đã biết tội/nợ của chị đà biến mất. Đó là quà tặng vượt quá những gì chị đáng được hưởng. Việc này không mang tính hữu lý theo người phàm, nhưng là điều rất mới, thuộc trật tự khác còn mới hơn. Nó như bài ca mới; và chị được mời để cùng mọi người hát lên bài ca mới ấy.

Trình thuật kể rằng Chúa có viết điều gì trên đất, nhưng thực sự Chúa chưa từng viết điều gì thành kinh điển và có lẽ hôm ấy Ngài cũng chỉ quệt quệt đôi vạch chứ chẳng viết chữ gì. Tựu trung thì, người kết án chị đã phản ánh tội của chị vào văn bản của Chúa, rồi bỏ đi là vì thế. Sự việc như thể, hôm ấy, có đường lối mới rất tích cực về thứ tha đã trực chỉ người nữ phụ tội phạm như chị. Tha thứ đến với chị trong khi mọi người bỏ đó mà đi mang theo mọi hờn giận, ghét ghen, chẳng tha thứ. 

Sự thể xảy ra hôm đó, là: có điều gì đó chưa từng xảy ra hôm trước, nay đã đến. Đó là quà tặng từ Đấng chưa thể hiện vào hôm trước, và cũng chưa có mặt ở hiện trường xử án, đầy vỡ đổ. Điều mới đó gọi là tha thứ.

 Tha thứ lớn hơn mọi sự ở thế trần. Tha thứ dẫn con người ra khỏi chính mình, vẫn khổ đau, đóng kín. Tha thứ lớn hơn sự công chính, hữu lý và hữu tình. Một thứ mới mẻ khiến con người thấy có sự sống sinh động và tình thương yêu, cũng rất lớn. Đó là tha thứ mà không ai vi phạm, sờ chạm được.

Dân con Hội thánh chưa hiểu sự mới mẻ này được là bởi giới chức có trọng trách dẫn dắt Hội thánh lại cứ giảng rao quá nhiều ‘sự’ về án chết, lỗi tội và khổ đau như ném đá cho chết. Có lẽ Hội thánh nay cần thứ gì đó to tát hơn để ta có thể học hỏi yêu thương từ nữ phụ phạm lỗi nay được tha nên đã yêu.

Nữ phụ ấy là ai? Phải chăng là bà Susannah ở Cựu Ước? 

Phải chăng nữ phụ kể ở trình thuật hôm nay là tổng hợp giữa người nữ thành Samaritanô và người mù bẩm sinh? Cũng có thể là một Lazarô ở trong mồ, tức nhân vật chính trong phụng vụ mùa Chay này chăng? 

Nữ phụ trong trình thuật phải chăng là biểu tượng của những ai từng bị đào thải, vì đã làm những việc theo cung cách khác hẳn xã hội từng chỉ vẽ bằng luật? 

Trả lời câu hỏi này, hẳn ta sẽ hiểu được ý chính của tác giả khi viết trình thuật hôm nay.
Trong cảm nghiệm tinh thần đó, cũng nên ngâm lại lời thơ vừa trích dẫn, rằng:

            “Em còn đó, xoã lòng đêm tóc rối,
            Tôi đứng đây, bụi lốc mịt mù xa.
            Nghìn mắt lá đang nhìn tôi ái ngại,
            Đêm nguyệt quỳnh hoá nở kiếp phù hoa.”
            (Vương Ngọc Long – Đêm Nguyệt Quỳnh)

“Đêm Nguyệt Quỳnh”, chắc chắn không là đêm của tình thương yêu/tha thứ như nhà thơ hiểu. Nhưng, vẫn là đêm tuyệt diệu cho nữ phụ ở trình thuật và cho tôi, là người lâu nay vẫn hưởng nhờ ơn tha thứ từ Đức Chúa, rất lòng lành. Thế đó, là lời đáp trả của lời thơ vương vấn ở đâu đó, rất trong đời.          
Lm Kevin O’Shea, CSsR
  __________________________