Friday, 10 April 2009

“Tình Yêu không biết sợ”

Người yêu chỉ biết buồn.
Tình yêu không cổng sắt.
Tình yêu không rào vuông.

(Dẫn từ thơ Võ Thị Trúc Giang)

Ga 20: 19-31

Không biết sợ, là tình của nhà thơ. Là, tình không cổng sắt? Với nhà Đạo, là tình không rào vuông. Ơ hờ. Rất sợ. Sợ, là tâm tình của đồ đệ ngày Phục Sinh, Chúa đã về.

Trình thuật hôm nay, bắt đầu bằng bầu khí hãi sợ. Chủ nhật hôm ấy, chỉ hai ngày sau lúc Chúa lìa đời, khi các môn đệ ở trong nhà. Cổng kín tường cao. Vẫn sợ. Sợ, là sợ bị giam giữ. Trừng phạt. Sợ, vì liên quan đến Chúa. Sợ, dù Chúa đã trấn an, mấy ngày trước.

Chúa trấn an, bằng sự hiện diện theo cách mới. Với các ngài. Trấn an, bằng những lời thân tình.

“Bình an cho anh em”, thoạt là lời chúc, rất “Shalom”. Shalom, thường là tiếng chào hỏi của người Do thái, mỗi khi gặp. Ở đây, lúc đồ đệ còn hãi sợ, lời chúc của Chúa mang ý nghĩa rất đặc biệt. Tiếng Hy Lạp, không có động từ “chúc tụng” như thế, nên có thể đây là lời chào đoan quyết một sự kiện, là: nơi đâu có Chúa hiện diện, nơi đó có bình an. Không sợ.

“Chúa đưa tay chỉ vào cạnh sườn”, không là cử chỉ của thần linh ma quái, rất phù thuỷ. Nhưng đây là động tác của Đấng, đã chết trên thập tự, nay thành dấu chỉ chứng tỏ một ý nghĩa mới rất đáng kể, là: Ngài chết đi và sống lại, để cứu độ con người. Ân huệ rất nhưng không. Phổ cập.

Ơn cứu độ, hiện rõ qua việc Thầy sống lại và trở về, đã đem đến cho mọi người niềm an vui. Phấn khởi. An vui trở về, Ngài tiếp tục hiện diện với các đấng. Qua chuyện trò cùng các đấng, Ngài chúc bình an cho mọi người. Đồng thời, Ngài trao ban cho các đấng, sứ vụ mới. Sứ vụ cao cả. Rất phấn chấn: “Như Cha sai Thầy thế nào, thì Thầy cũng sai anh em đi như thế” (Ga 20: 21).

“Và, Ngài thổi hơi trên các ông”, đây là hơi thở của sự sống. Bằng hơi thở, Giavê Chúa đã thổi lên cát bụi. Đời người. Bằng thổi hơi, cuộc sống con người nay được thánh hoá. Thổi hơi lên người đầu tiên, tên A-đam. Chúa thổi hơi, chính đó là Thần Khí, Đấng Linh Thiêng của Cha, và của Con. Thổi hơi, Ngài nói rất rõ: “Hãy nhận Thánh Thần Chúa, trên anh em.”

Và tiếp theo, là mệnh lệnh: “Anh em tha lỗi cho ai, người ấy sẽ được tha. Anh em cầm buộc ai, người ấy sẽ bị cầm buộc.” (Ga 20: 23). Mệnh lệnh đây, Ngài trao phó, cho mỗi người. Và, mọi người. Lời Ngài trao phó, tuy không nhiều, nhưng đã trở thành quyền uy trao cho các thánh, ngang qua Lời.

Thật sự, ta không thể tha thứ cho bất cứ ai, mà không hoà giải. Việc Chúa trao quyền uy tha thứ cho cho đồ đệ, là: quyền hoá giải để mọi người có thể đến với Chúa. Đến với người anh người chị trong cộng đoàn. Đến như thế, đất trời và tạo thành, sẽ thu về một mối. Bình an, Công lý. Sự Thật.

Đó là việc tiên quyết, các thánh sẽ làm. Còn lại, tất cả chỉ là thứ yếu. Kèm theo sau. Tiên quyết, tức: tái lập tương quan mật thiết giữa Chúa và dân Ngài. Tương quan, là mối giây mật thiết giữa con của Chúa, với chúng nhân. Đây, là công tác vĩ đại, chưa từng thấy.

Trên thực tế, công tác vĩ đại gồm nhiều việc. Không phải chỉ đến mỗi toà cáo giải để nhận lãnh ơn thứ tha, rồi thôi. Công tác Thầy giao, bao gồm việc gầy tạo môi trường xã hội, có căn bản dựa trên tương quan mật thiết. Với Chúa. Với anh em. Để thiết lập Vương Quốc Nước Trời. Ở trần gian.

Bài đọc 1, mô tả cộng đoàn Nước Trời, rất lý tưởng nay thấy rõ: “Các tín hữu thời ấy đông đảo, nhưng vẫn một lòng một ý.” Một lòng một ý, là dấu hiệu hiệp thông đoàn kết giữa cộng đoàn dân Chúa. Cộng đoàn tình thương. Mật thiết. Thân thiện.

“Không ai coi những gì mình có là của riêng, nhưng với họ, mọi sự đều của chung”, đây là lý tưởng mà người Cộng sản trước đây vẫn coi như phương châm hành động. Phương châm khẳng định rõ: “Làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu”. Lý tưởng này, nay thấy hiếm trong xã hội hôm nay. Xã hội lớn, gồm các cá nhân luôn ham hố. Tranh giành. Chiến đấu.

Bằng vào phương châm này, “cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn”. Bởi, người có của dư thừa, đều bán của mình có, tặng cộng đoàn:“tiền bán được, nay phân phát cho mỗi người, tuỳ nhu cầu.”

Giáo hội hôm nay, có tìm ra được cộng đoàn tình thương nào, đẹp thế không? Hay, chỉ thấy có, nơi cộng đoàn sống đời tu trì. Ở nơi đó, các thành viên sống yêu thương đích thực. Sống với lý tưởng phổ cập. Sống, như Kitô hữu đích thực, đã cải biến. Căn bản cộng đoàn Kitô hữu cũng nên thay đổi theo chiều hướng tích cực. Như thế.

Bài đọc 2, nói về giới lệnh của Chúa, cần tuân thủ. Thánh Gioan cho biết những việc như thế, không khó làm. Có thể, đây vẫn chưa là kinh nghiệm sống của nhiều người. Có thể, chuyện ở đây vẫn chưa thành hiện thực. Nhưng, đây là giới lệnh gọi mời ta sống đích thực như vẫn nghe: nhân chi sơ tính bản thiện. Giới lệnh, nay không đòi ta thực thi điều gì không ăn khớp với bản chất riêng tư, cần thăng tiến. Nhưng, lời khuyên từ thánh Gioan, cũng phù hợp với giới lệnh ở Tân Ước, đòi mọi người yêu thương nhau, như Chúa vẫn thương ta. Giới lệnh, nay yêu cầu ta trở thành nhân tố Bình an, Hài hoà và Công lý. Ăn khớp với ý của Tin Mừng. Và, của Bài đọc 1.

Chúa trở về hiện diện giữa các thánh, rất đầu đủ. Nhưng, không thấy có mặt đồ đệ Tôma. Thành thử, thánh nhân mới nói Ông sẽ không tin nếu không đặt tay nơi cạnh sườn Thầy. Sau đó, thánh nhân đích thân gặp gỡ Thầy. Nên, ông không còn cứng lòng, như trước nữa.

Nhận ra Thầy, thánh nhân kêu lên: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi!” Đây, còn là lời xác nhận căn tính đích thực của Đức Chúa. Nơi Tin Mừng. Đây, là lần đầu tiên và duy nhất, ta nghe các thánh gọi Ngài là Chúa. Kỳ diệu thay, đây chính là hành động của niềm tin. Rất có thể, thánh Tôma không trực tiếp nhận thức Đức Giê-su là Chúa. Vì, chẳng ai trực diện thấy được Chúa. Nhưng, kinh nghiệm cho thánh Tôma tin rằng: thánh nhân đang giáp mặt Chúa. Thực sự.

Lời Tin Mừng, nay là lời phấn chấn, khích lệ mọi người. Với những ai không có kinh nghiệm, tựa như thánh Tôma, Lời Ngài được gửi đến, rất xác thực: “Phúc thay cho người không thấy mà tin!”. Điều này nhắc nhở mọi người, hãy mở lòng ra mà nhận biết Chúa đang hiện diện. Ở với ta.

Cuối cùng, thì những gì được ghi ở trình thuật, nhằm giúp ta đạt đến trạng thái để ta cũng sẽ tin như các thánh: “Đức Giêsu là Chúa Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống!” Bằng vào niềm tin này, ta tìm ra được cuộc sống đích thực.

Hôm nay, biết bao người từng kinh nghiệm thấy rằng: tất cả là sự thật. Tất cả, đều nhận ra rằng: dấn bước theo Chúa, sẽ mang lại cho ta ý nghĩa, hướng đi và chất lượng cho cuộc sống. Của mình. Chất lượng ấy, không thấy bất cứ ở đâu. Nơi nào. Cầu mong sao, đó sẽ là kinh nghiệm của mỗi người, chúng ta.

Trong cầu mong như thế, ta lại cất lên lời tuyên dương bằng tiếng hát. Hát rằng:

“Tôi vẫn tin vào ngày mai

Tình thương chan chứa mọi nhà

Tôi sẽ đi tìm cuộc vui

Cho bao người còn chơi vơi cuộc sống lẻ loi.” (Quốc Dũng-Tôi vẫn tin vào một ngày mai)

Tin vào ngày mai, hay tin vào Chúa. Sẽ rất vui. Niềm vui, chan chứa mọi nhà. Mọi người. Những người tin rằng Chúa vẫn hiện diện ở với mình. Với người. Khắp mọi nơi.

______Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.



Saturday, 4 April 2009

“Tình đã chết, có mong gì sống lại”

Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

(Dẫn nhập thơ Trần Dạ Từ)

Ga 20: 1-18

Tình nhà thơ, nay đà chết. Nào những mong, tình sống lại. Lòng nhà Đạo, dù khi xưa tuy có chết. Nhưng, nay đà sống lại cùng Chúa. Với Chúa. Với cộng đoàn thân thương, có chứng nhân. Nhân chứng hôm nay, hân hoan mừng Chúa sống lại. Vui vầy. Rộng khắp.

Mừng Sống Lại, ta không chỉ loanh quanh việc gợi nhớ. Nhớ giây phút Chúa sống lại, đánh động tâm can đồ đệ, thôi. Nhớ Phục sinh, là nhớ rằng ơn cứu độ đã ảnh hưởng lên cuộc sống và niềm tin của con dân. Nhớ Phục sinh, còn là nhớ lời gọi mời đổi mới. Đổi tận gốc rễ, như đồ đệ Chúa đã làm, thời tiên khởi. Nhớ Phục sinh, không chỉ là tin tưởng và loan báo việc Chúa sống lại. Nhưng, còn phải tác động lên điều mình tin. Lên, tình thương yêu. Rao giảng.

Bài đọc 1, thánh Phêrô nói đến kinh nghiệm mà thánh nhân muốn sẻ san với cộng đoàn đang nghe giảng. Là môn đồ gần cận, thánh nhân san sẻ với mọi người kinh nghiệm về giảng rao. Nhờ có kinh nghiệm rao giảng, thánh nhân biết xác đáng rằng Đức Giêsu đã chết trên thập giá, nay đang sống với các thánh, trong niềm vui đầy tràn. Và, các thánh san sẻ niềm vui ấy với mọi người. Để, ai nấy cùng vui như Ngài. Với Ngài.

Bài đọc 2, Phaolô -một Pharisêu cương nghị- từng bức bách con dân của Chúa, cũng có kinh nghiệm về sự sống lại, với riêng mình. Và, thánh nhân đã hồi hướng trở về. Về cùng Chúa, ngay trên đường bách hại, ở Đamát. Hồi hướng trở về, thánh Phaolô đem dân con Chúa về với cộng đoàn tình thương.

Qua kinh nghiệm, Phaolô thánh nhân đích thân thay đổi cuộc sống. Bằng vào kinh nghiệm sống lại, thánh nhân đã có thị kiến mới về mọi sự. Đặc biệt, về cuộc sống của Đức Giê-su. Về thông điệp Ngài đem đến. Cuối cùng, thánh nhân đã sử dụng trọn vẹn năng lực của mình để phục vụ. Phục vụ, theo cùng một cung cách khi trước, hầu giúp đỡ mọi người biết yêu thương và dấn bước theo chân Chúa.

Trình thuật hôm nay, kể về “Mộ trống” như dấu hiệu Chúa về lại với cuộc sống, bình thường. Và thánh sử kể về sự kiện Maria Magdala và đồ đệ Chúa đến mộ phần, chứng kiến và tin vào Chúa Phục Sinh. Tin, là tin vào Tin Mừng, như đã viết: “Hai ông chưa hiểu rằng theo Kinh thánh (tức Cựu Ước): Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20: 9). Tin và hiểu, như hai vị tông đồ trên đường Emmaus, cũng được giải thích, để hiểu rõ. Tin và hiểu, là biết chấp nhận một sự thật: Chúa chấp nhận khổ đau và sống lại, quả đúng như điều được ghi trong Cựu Ước.

Suy cho cùng, ta cũng hiểu: Phục sinh không chỉ đơn thuần là phục hồi sinh lực cho cơ thể Chúa. Phục sinh, không đơn thuần là chuyện tai nghe mắt thấy. Thấy, như đã thấy việc Chúa bị đóng đinh, một sự kiện lịch sử. Mà, Phục sinh, chính là sự kiện của niềm tin. Đức Chúa Phục sinh, nay sống lại để đi vào cung cách mới, của sự sống.

Các văn bản sau ngày Chúa Phục sinh, cho thấy: Ngài không được các tông đồ gần cận, nhận thức trước. Ngài ở bất cứ những nơi mà đồ đệ Ngài đi đến. Chúa Phục Sinh ở phải được hiểu, là Ngài mang nơi Mình Ngài, một hình thức tân tạo. Mang cung cách hoàn toàn mới mẻ, để hiện hữu ở với ta. Và, cung cách mới chính là cộng đoàn dân con. Là, Thân Mình hiện thân nơi Nước Trời, ở trần gian. Là, tương quan dân con, của Đức Chúa.

Đọc tiếp trình thuật, ta sẽ thấy: thánh Phêrô và “môn đồ được Chúa thương” đích thân chứng kiến Chúa sống lại, đã chạy về kể cho bạn bè nghe những điều mình “tai nghe mắt thấy”. Riêng Maria Magđala, người nữ phụ đầy lỗi phạm khi trước, nay đã dâng trọn đời mình để Chúa dẫn dắt. Chính nhờ thế, Thầy Chí Ái đã vui lòng ở lại, với chị. Với mọi người.

Với Maria Magđala, mặc khải “Chúa sống lại” là sự kiện: có thiên thần hiện diện, tức do Chúa. Và, khi ngước mắt quay nhìn, chị thấy Chúa nhưng không nhận ra. Đó là điều, khiến chị bật thành tiếng khóc trong mừng vui. Vui, vì biết rằng Chúa Sống Lại đã hiện ra với chị. Với người đời. Thế mà, chị cứ ngỡ Ngài là “người làm vườn”.

“Người làm vườn”, lời Tin Mừng được thánh Gio-an nhiều lần nhắc đến. Vườn, là chốn địa đàng, nhị vị tiên tổ từng ngã phạm (Kn 2: 23). Vườn, là nơi chôn Chúa, chốn cứu chuộc (Ga 19: 41). Vườn, là khu lưu giữ chiên đàn, Chúa nói đến (Ga 10: 1-5). Tựu trung, Chúa Phục Sinh từng gọi tên Maria Magđala để mặc khải, hay gọi tên chiên con, đều ở đây. Trong vườn.

“Thôi đừng giữ Thầy lại”, điều này chứng tỏ: dân con Đạo Chúa cứ đeo đuổi bám víu vào con người “cũ” của Đức Chúa. Trên thực tế, Đức Giêsu nay đã về với Cha, trong quang vinh. Về với Cha, Ngài hứa sẽ trở lại, nhưng theo cung cách khác. Bằng một thực thể mới mẻ, khác lạ. Và, ta chỉ gặp Ngài, nơi những người được coi là đồ đệ. Người liên kết làm một Thân Mình Chúa. Một Hội Thánh Chúa. Ở địa phương.

“Tôi đã thấy Chúa!”, lời kể của Maria Mác-đa-la, người nữ phụ từng phạm lỗi, rất nặng theo luật Do Thái, cũng là của phụ nữ, những người có vị thế rất thấp trong xã hội. Nhưng, với Tin Mừng, lại được ưu tiên cao. Ưu tiên được biết trước nhất, chuyện Chúa sống lại. Đó chính là mục đích cũng như ý nghĩa của sứ vụ rao báo Tin Mừng. Rao báo, không chỉ là chuyển giao triết lý của lòng tin. Mà còn là, san sẻ cho nhau những kinh nghiệm mình chứng kiến.

Kinh nghiệm được gặp và được thấy Chúa trong cuộc đời, của chính mình. Rồi sau đó, mời gọi mọi người cùng làm như thế. Mừng kính Chúa Phục Sinh, ta cũng được gọi mời cùng một cung cách như thế. Gọi và mời, như Phêrô thánh nhân, Maria Mácđala và đồ đệ khác, theo một kiểu. Một kiểu cách như bài đọc hôm nay, cho thấy.

Đọc thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, ta đều thấy: lời mời gọi Phục Sinh là một gọi mời hồi hướng trở về, tận căn rễ. Là, thanh lọc tự bản thân, của mỗi người. Khi cử hành lễ Vượt qua, người Do Thái có thói quen đổ bỏ bánh lên men mà họ vẫn có. Thay vào đó, là bánh không men, vừa mới cất.

Thói quen đổ bỏ này, vì qua tiến trình lên men tạo nên bánh, men được coi là nhân tố gây lũng đoạn bột. Vì thế, thánh Phaolô khuyên ta nên mừng lễ Vượt Qua, “đừng với men cũ, là men gian tà, ác độc; nhưng, với Bánh không men của lòng tin tuyền, và chân thật.” (1Cr 5: 6)

Về lại bài đọc 1, từ sách Công vụ Tông đồ, thánh Phêrô nhấn mạnh đến tầm vóc quan trọng của đồ đệ Chúa. Quan trọng ở chỗ, ta không chỉ rút kinh nghiệm từng trải và vui hưởng niềm vui Đức Chúa là Thầy Chí Thánh nay đã Phục Sinh, mà thôi. Nhưng còn phải sẻ san kinh nghiệm và niềm vui ấy cho nhiều người càng tốt. Đó là điều ta nên làm. Nên làm, vì nếu chỉ liên hoan Phục sinh, thì mới có nửa phần. Mà, với người Đạo Chúa, Phục Sinh là đại lễ diễn ra hằng ngày. Là, ngày vui Chúa Sống lại, ta san sẻ với hết mọi người. Vào mọi ngày.

Lời thánh Phêrô “còn chúng tôi đây xin làm chứng”, là làm chứng về những việc Chúa đã làm. Về, việc Chúa bị bắt, hãm hại và giết đi. Về, “Thiên Chúa đã làm cho Người trổi dậy” và chúng ta, là “những kẻ được cùng ăn cùng uống với Người” (Cv 10: 40-41), vẫn là điều ta vẫn làm mỗi khi tham dự Tiệc Thánh Thể. Dự Tiệc Thánh, ta vẫn ăn và vẫn uống Thân Mình Đức Chúa Phục Sinh, quang vinh.

Vậy thì, thông điệp ta có được từ lễ Chúa Phục Sinh, là thế nào? Ta có đáp ứng đòi hỏi làm con dân Đức Chúa, hay chỉ ngồi đó tham dự thánh lễ mỗi Chủ Nhật, như người dưng? Bởi, thông điệp của Chúa là thông điệp gửi mỗi người chúng ta. Gửi, để ta ra đi mà rao báo Tin Mừng Ngài đã Phục Sinh. Rao và báo, cho cho con dân Ngài biết Thiên Chúa đã chọn Đức Giêsu đến với ta, không phải để lên án kẻ sống với người chết. Nhưng, để mọi người tin vào Ngài, sẽ được tha thứ mọi lỗi lầm, ngang qua Ngài.

Trong hân hoan đón nhận lệnh truyền của Chúa, ta cứ vui lên ma ca hát. Hát rằng:

“Người đi trong kinh hãi, trong cô đơn

Nhưng đi tới, nhưng đi vươn

Đi ra ngoài, đi ra ngoài màn đêm…”(Phạm Duy – Dạ Hành)

Ra đi, mang lệnh truyền của Chúa, sẽ không ra đi trong kinh hãi. Sợ sệt. Nhưng, vươn lên mà tiến bước. Tiến ra ngoài màn đêm. Nơi, còn nhiều người biết Chúa sống lại, từ cõi chết. Rất hãi sợ.

______Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.


Saturday, 28 March 2009

“Mình hãy trách đời nhau, nhiều hư hỏng”

Rồi giận hờn, cho kỷ niệm đầu tay
Thu miên man, không thấy lá vàng bay
Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng.

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mc 14: 1/ 15:7

Nhà thơ, xưa lưu dấu kỷ niệm, nhiều hư hỏng. Kỷ niệm đầu tay hay đầu đời, có lá vàng bay. Có nỗi buồn mầu trắng. Rất miên man. Giận hờn. Nhà Đạo, nay không mang sắc mầu kỷ niệm, một giận hờn. Buồn nhớ. Nhớ Vượt Qua. Nhớ nỗi chết của Chúa. Ngày sống lại.

Trình thuật hôm nay, thánh sử ghi về nhiệm tích “Vượt Qua”, Chúa từng trải. Ngài từng trải qua nhiều khổ đau. Có nỗi chết. Sống lại. Có thăng thiên về trời. Ngài gửi Thần Khí đến muôn dân. “Vượt qua”, “Cứu độ” Chúa thực hiện, nay đã rõ. Ở trên cao. Chốn vắng. Có thập giá, khổ đau. Rất sầu buồn.

Ngày buồn, Chúa ra đi. Đi, là về với Giêrusalem thành thánh. Đi, để khởi đầu một kết đoạn cuộc đời Ngài, ở trần thế. Kết đoạn, trong quang vinh. Khải hoàn. Hiển hách. Ở nơi đó, dân gian chốn thành thánh ra nghênh đón. Ở nơi đó, có niềm hân hoan, khởi sắc. Có, lời chúc tụng rền vang “Hosanna, Con Vua Đavít!” ầm ầm. Khắp chốn. Ở đó, lời tuyên dương “Đấng nhân danh Chúa mà đến”, vang dội mãi hôm nay, nơi Tiệc Thánh. Tại đây. Bây giờ.

Nhưng phút chốc, cục diện khởi sắc bỗng biến thành cảnh tượng u buồn. Sầu khổ. Có nỗi chết. Tại sao thế? Suy cho cùng, không gì bằng: ta về với bài đọc Lễ Lá, có thư đậm nét, thánh Phaolô ghi: “Anh em hãy có nơi mình, tâm tình ta vẫn có với Đức Ki-tô” (Ph 2: 5) Bởi, “Đức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, thế mà Ngài vẫn trút bỏ mọi vinh quang, để chấp nhận phận nô lệ” và, “Ngài mặc lấy thân phận nô lệ, hạ mình chịu chết; và là cái chết trên thập tự.” (Ph 2: 6-7).

Ý tưởng này, thấy rõ nơi bài đọc 1, sách Isaya. Sách thánh, có đoạn ghi: “Người môn đệ kiệt sức”, không cưỡng nổi sức mạnh của địch quân. “Tôi đưa lưng cho người đánh đòn, giơ má cho người giật râu”. Ở đây nữa, tiên tri Isaya bàn về thái độ “không sử dụng bạo lực để đối kháng bạo lực. Bạo lực đây, không là thái độ đơn thuần, thụ động. Bạo lực đây, gặp phải trạng thái bất bạo động. Tức, một động thái được Mahatma Gandhi, Martin Luther King… rất đề cao.

Tuy đề cao, nhưng bất bạo động của Đức Kitô, ở đây, không chỉ là không sử dụng bạo động. Bất bạo động, mà là hành xử Chúa muốn tỏ bày, qua yêu thương. Có yêu thương, Ngài mới chấp nhận nạp mình cho đám người chuyên sử dụng bạo lực. Yêu thương, là cung cách Chúa bày tỏ cho mọi ngưòi. Yêu thương, là đỉnh cao tâm tình Ngài gửi đến, với chúng ta. Gửi đến, để ta cứ làm thế mà làm để theo chân Chúa.

Theo chân Chúa, là sẵn sàng “rỡ bỏ” chính mình. Là, đặt mình trong tâm tình yêu thương, cùng với Ngài. Theo chân Ngài, là giùm giúp mọi người. Vô điều kiện. Theo chân Ngài, là phục vụ bất cứ ai, trong tinh thần tương thân/tương ái. Không ngừng nghỉ.

Bài thương khó thánh Mác-cô ghi lại hôm nay nhấn mạnh một số điểm, để ta suy nghĩ:

*Ngày giờ sau hết:

1. Kinh sư/thượng tế dùng mưu ma chước quỷ nhằm trừ khử Chúa. Không thương tiếc.

2. Người nữ phụ đến đổ dầu thơm lên người Chúa, ý nói buổi liệm táng Ngài, vào rất sớm.

3. Giu-đa nộp Chúa cho thượng tế, đổi lấy tiền, là gợi ý hỏi rằng ta có làm giống thế? vì tiền?

*”Một trong các ngươi sẽ nộp Ta cho họ”

4. Dự phần Vượt Qua với môn đệ, Chúa tỏ bày sự bội phản của đồ đệ, nào ai đã nhận thức? Dự tiệc Thánh, ta thấy chăng quan hệ tương tác với người đồng bàn? đồng Đạo?

5. ”Này là Mình Ta. Này là Máu Ta” Chúa thiết lập Tiệc Thánh Thể, để tạ ơn. Nên nhớ, chính vì ta Chúa mới chịu khổ nạn, chấp nhận nỗi chết. Nhưng đã sống lại. Là, thành viên cộng đoàn dân con Chúa, ta có nhận chính ta là thành phần thân mình Ngài, không?

6. Phêrô chối Chúa. Về phần ta, đã bao lần, ta cũng hành xử như thế, với cộng đoàn?

*Trước mặt quan án

7. Tại vườn Dầu, Chúa vượt mọi hãi sợ. Đã nguyện cầu. Ngài hoàn toàn tuân ý Cha. Trong khi đó, các đồ đệ đều bỏ đi. Bỏ, là vì chẳng ai đoán được Ngài sẽ bị như thế. Nên, chẳng biết phải làm gì?

8. Chúa bị bắt. Giuđa bội phản. Phêrô rút gươm, ngăn cản dân quân đến bắt. Mọi người đều bỏ chạy. Để Chúa một mình. Tình thương đích thực đành bị bóp méo. Chẳng ai hiểu được đường lối bất bạo động, Chúa vẫn đi. Trường hợp mình, ta có bỏ chạy, khi đụng chuyện?

9. Trước mặt quan toà, Lời Chúa bị bẻ quặt. Chúa vẫn lặng thinh. Lặng và thinh, vì dân tình chỉ muốn lật ngược sự công minh, chính trực. Chúa tỏ bày Thiên tính Đấng Mêsia. Dân con mình tự bịt mắt. Làm mặt ngơ. Rất mù quáng. Còn ta? Ta nhìn Ngài với cặp mắt nào?

10. Vốn bộc trực, Phêrô đã một mực chối bỏ Chúa. Bỏ, những ba lần. Còn ta, chối bỏ bao lần?

*Quan trấn trưởng La Mã

11. Đứng trước Philatô, chỉ quan quyền mới lật ngược được tình thế. Đức Giêsu vẫn im lặng. Là Vua và là Chúa, Đức Giêsu vượt trên quyền tổng trấn, ở trần gian. Philatô không hiểu điều này, cứ tưởng rằng Chúa thuộc dưới trướng mình. Còn ta, lâu nay ta có thái độ nào?

12. Đám đông dân chúng xin tha Barabbas, thay vì Chúa. Còn Philatô, nắm thời cơ chuyên chuyển đổi sự việc. Nhất quyết biến Chúa thành tội phạm. Trong cuộc đời, có bao giờ ta từng xử sự giống như thế? vì danh/vì lợi?

*Con đường của thập giá

13. Chúa tuyên xưng Ngài là Vua. Điều này khiến dân quân nhà trại cười ồ. Chụp mũ. Lại mũ gai. Cắm gài lên da thịt. Ngài vẫn lặng thinh. Không cất lên lời. Vua các vua, nay tự “rỡ bỏ” chính Mình. Vì loài người. Còn ta?

14. Tiếp tục chặng đàng khổ ải. Chúng dân cười nhạo. Phỉ nhổ. Đường thống khổ, Ngài đi tiếp. Phần ta, phải chăng ta đã dự phần vào bi kịch hành hạ Đức Chúa? Ta đà thấy vinh quang Chúa hiển hiện qua khổ ải? Ta đáp trả ra sao? Trong đời ta?

*Bĩ cực và hiển vinh

15. Tối tăm phủ khắp chốn trời. Chúa tiến đến phần sâu lắng của khổ hình. Ngài hít hơi cuối cùng, rồi tắt thở. Hơi Ngài hít, chính là Thần Khí Chúa Cha. Là Ngài. Chết, giai đoạn cuối đã hoàn tất. Ngài hoàn thành thánh ý Cha. Màn Đền Thờ nay rách nát. Chúa biến đổi, qua hiện thực Phục sinh, nơi Mình Ngài. Tức, Hội Thánh. Lính gác, nay nhận ra Sư Thật: “Người này là Con Thiên Chúa.” Đây, một nhắc nhở dân con mọi người hãy mở lòng đón nhận Thần Khí Cha. Như dân quân canh gác đã nhận ra.

16. Giuse A-ri-ma-thi-a, xưa lên án Chúa, nay biến thành người đợi chờ Chúa đến trong vinh quang. Ngời sáng. Với đồ đệ, đây là kết cục mọi sự việc. Rất đau buồn. Sầu thảm.

Thương khó, do thánh Mác-cô ghi lại, đem đến cho ta nhiều điều để suy tư. Nguyện cầu. Nguyện và cầu, không chỉ mỗi hôm nay. Nhưng, suốt tuần. Tuần rất thánh, có những ngày sau hết của đời Chúa ở trần gian. Thánh Y Nhã khi xưa đã đề nghị một niệm suy, cho các khoảnh khắc cuộc đời ta vẫn sống. Thánh nhân đề nghị ta nên thêm vài suy tư, dù cổ lỗ:

“Tôi cố đặt mình vào lời lẽ được cất lên. Tôi tìm cách hiểu cho thấu, điều Ngài diễn tả bằng diện mạo. Và nơi tôi, đang dâng cao xuất hiện một nhận thức, vừa đủ sức. Có làm thế, tôi mới đi sâu vào mầu nhiệm để chiêm ngắm. Và, càng chú ý đặc biệt đến tính thánh thiêng, ẩn mình thầm kín, ta càng thấy Chúa tỏ mình như người thường, rất bất lực. Tôi hiểu rằng, Chúa yêu thương ta biết chừng nào, chính vì thế Ngài vui lòng chấp nhận khổ đau khi ta phạm lỗi. Khi ta khước từ Ngài, bằng nhiều cách.”

Dù cách nào đi nữa, trình thuật cuộc thương khó Chúa, diễn tả nỗi khổ Chúa bị người đời từ khước/chối bỏ. Chấp nhận thống khổ, Ngài quyết lãnh ý Chúa Cha. Làm thế, Ngài thực hiện công cuộc cứu độ, do Cha trao. Làm thế, Ngài hoàn tất hành trình trải dài nhiều khổ đau. Có nỗi chết. Nhưng Ngài sống lại. Để người người được vinh hiển.

Trong ý hướng lĩnh nhận vinh hiển Chúa ban, ta hân hoan cất cao lời hát, chúc tụng:

“Chiều thu ấy ánh nắng thu rơi lòng người

Hồn chơi vơi gió cuốn mây trôi về nguồn

Lòng bâng khuâng nghe lá rơi

Tình lâng lâng lâng theo sóng môi

Cầm tay nhau trao câu tiễn đưa

Ðừng sầu gió mưa.” (Nguyễn Hữu Thiết – Anh đi chiều Thu ấy)

“Cầm tay nhau ra đi, đừng sầu gió mưa”. “Đừng trách đời nhiều hư hỏng”. Nhưng cứ vững lòng, tin Chúa sống lại. Ngay cả vào mùa Chay kiêng. Nguyện cầu. Sám hối.

______Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.