Saturday, 4 September 2010

“Hoa vẫn ngát hương bay”


Như ngày xưa đến lớp

Như chiều nào bất chợt,

Ta tìm em bơ vơ.”

(thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn)

Lc 15: 1-32

Ngày xưa đến lớp. Đâu bất chợt. Ngày nay đến gặp. Được nhiều hơn. Nhiều, không là số lượng. Mà, về chất lượng lời Chúa. Những bảo ban. Lời Ngài ban, vẫn râm ran ghi chép một trình thuật.

Trình thuật, nay Thánh Luca ghi và chép Lời Ngài ban rất chất lượng. Ở mọi thời. Lời Ngài bảo, là phán bảo đầy những chất lượng. Cho cuộc sống. Điều này, rày thấy ở bài đọc 1, sách Xuất Hành. Ở sách ấy, Đức Chúa hành xử tưởng Ngài chừng như giận dữ, giống như ta. Chúa có giận, chỉ là khi dân con của Ngài vẫn thờ quấy, những ngẫu tượng. Ngài cũng giận, vào lúc dân con của Ngài chỉ cứng đầu. Phụ bạc. Ngài còn giận, cả vào khi Môsê cố thuyết phục. Và rốt cuộc, Ngài đã nguôi ngoai.

Trình thuật thánh Luca, nay cho thấy ba ảnh hình dụ ngôn diễn tả cùng tự sự, từ Đức Chúa. Khác Cựu Ước, dụ ngôn hôm nay mang ảnh hình về cùng chủ đề xót thương. Vì xót thương, nên Chúa mới cất công đem người lầm lỡ về với tương quan, rất trìu mến. Vì xót thương, Chúa đã bỏ chiên đàn ở lại, để kiếm tìm mỗi chiên con lạc bầy, đầy nguy biến. Ngài chẳng quở phạt. Nhưng vẫn mời chào mọi người hãy cùng vui. Như ngưòi goá phụ tìm được đồng tiền, rớt đâu đó.

Dụ ngôn về người con sa đà nhiều lầm lỡ, đã khiến người nghe nhận ra được tính hỉ xả/thứ tha nơi Cha Hiền, là Đức Chúa. Vì xót thương, vị cha hiền đã tha thứ tất cả. Để, tất cả được vui, khi người con đi hoang, nay trở về. Con về, để nhận lại tình thương yêu tha thứ, Cha ban phát. Về, để mọi người vui. Dù, người anh cả đại diện cho lớp người tuy ngoan hiền, đúng luật, nhưng thiếu lòng xót thương người thân thuộc, sống cùng nhà. Để rồi, có những động thái rất đáng tiếc.

Kể lại dụ ngôn, thánh Luca đã khởi đầu bằng một nhận định làm nền: “Các người thu thế và tội lỗi tìm đến Đức Giêsu để nghe Người rao giảng.”(Lc 15: 1) Kể như thế, thánh sử Luca nhắm hai chủ đích rõ rệt tương phản nhưng kết tác. Trước hết, là tương phản hành xử nơi những người tự cho mình là đạo đức. Sống đúng đắn. Rất hơn hẳn, mọi người. Tương phản tiếp, là những khác biệt về đường lối xử sự giữa người nhà Đạo (mà đại diện là anh cả), và dân con ở ngoài. Tương phản và khác biệt càng thấy rõ, nếu nhìn về tính khí vô luân. Phi đạo đức. Là tính khí, thể hiện rất rõ nơi người con thứ.

Trình thuật diễn tả nét đặc trưng của hai tính khí ấy qua động từ “tìm đến” và “nghe theo”. Tức, đặc trưng vẫn thấy nơi những người có quá khứ rất tồi tệ. Nhưng, một khi đã thật lòng “tìm đến” với Chúa, và chịu “nghe theo” điều Thầy dạy, họ không còn bị coi là người chìm đắm trong lầm lỡ. Tối tăm. Theo định nghĩa của sách vở, thì người chìm đắm trong tối tăm/lầm lỡ là người đã chấm hết, không còn muốn “tìm đến” Chúa. Cũng chẳng muốn tìm đến Thầy, để “nghe theo” Lời Thầy dạy dỗ, nữa.

Trong khi đó, Kinh sư/Biệt Phái lại vẫn nhìn mọi người bằng cặp mắt, đầy thành kiến. Dị nghị. Họ vẫn coi những người thấp hèn bên dưới, như kẻ lầm lỡ. Lỗi phạm. Nên, mới ung dung phiền trách: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với họ.” (Lc 15: 2) Đáp lại động thái ấy, Đức Giêsu không cãi tranh. Biện luận. Ngài chỉ đáp trả bằng dụ ngôn/truyện kể. Dụ ngôn nào cũng mang ý nghĩa nhắn nhủ: Chúa yêu thương hết mọi người. Chúa mong mỏi mọi người trở về với Ngài. Dù lầm lỡ, nếu biết trở về, Ngài đón tiếp rất linh đình. Mừng vui.

Tuy nhiên, cũng có nguy hiểm, là: ta dễ đi đến kết luận, rất “ba phải”. Và, đây lại không phải là điều Chúa muốn. “Ba phải” hoặc “huề vốn”, là ở điểm: ta cứ thế mà bảo: làm gì thì làm, sai sót cũng chẳng sao. Rồi ra, Chúa sẽ tha hết tất. Đó là triết lý của những người cuồng si. Đam mê. Vô độ. Không nghĩ đến hậu quả. Dù Chúa vẫn thương ta, nhưng đừng vì thế mà ra bê trễ. Bất cần.

Quan hệ với Chúa, có hai yếu tố rõ ràng cần tách bạch. Thứ nhất, tình Chúa thương ta là tình thương vô điều kiện. Bất kể người được yêu, có thế nào. Có làm điều sai quấy chống lại Chúa. Chống lại người anh em cùng nhà. Chống chính mình. Thì, tình Chúa vẫn thế. Truớc sau như một. Vẫn là thứ tình mà người Hy Lạp gọi là agapè. Tức, lòng thương yêu trìu mến. Chẳng đổi thay.

Là thánh nhân hay kẻ phạm lỗi, Chúa vẫn cứ yêu ta. Vẫn yêu, là bởi vì Ngài chính là Tình Thương Yêu đích thực. Ngài vẫn ban phát tình thương yêu vô điều kiện ấy, với mọi người. Bất kể người ấy là thánh nhân. Nhà độc tài. Hay, kẻ phạm pháp. Ngài vẫn bào: “Cần đến lương y, hẳn không phải người lành mạnh, mà là kẻ đau yếu.” (Mt 9: 12)

Mặc dù thế, ơn tha thứ từ Đức Chúa lại là chuyện khác. Tha thứ đây, không hẳn lúc nào cũng vô điều kiện. Như dụ ngôn “người con đi hoang trở về” cho thấy: người cha nhân hiền yêu thương rất mực người con thứ. Cha chẳng phiền hà khi nghĩ đến anh. Dù, anh tệ bạc. Chẳng đáng thương, theo lệ thường. Điều này người nghe thấy rõ trong câu nói: “Anh còn ở đằng xa, nhưng cha anh đã thấy. Và, ông chạnh lòng thương”. (Lc 15; 20)

Dù là thế, thứ tha ở đây chỉ mang ý nghĩa trọn vẹn khi người con thứ quyết tâm “hồi hướng quay trở về”. Quay trở về, là động thái rất cương quyết. Có chiến đấu nội tâm. Không chần chừ. Do dự. Nhưng, dũng mãnh. Bởi thế nên, không thể có tha thứ trọn vẹn, nếu không có hoà giải. Không thể có hoà giải, nếu vết thương lòng của những rẽ chia. Tranh giành không được hàn gắn. Chữa lành.

Cứ sự thường, người đời thường nghĩ: tha thứ chỉ mang tính “một chiều”. Họ tưởng rằng Chúa thứ tha, là Ngài tha thứ theo kiểu “đường một chiều”. Anh trước. Em sau. Thậm chí, có người còn suy tính: cứ thoải mái mà phạm lỗi. Chắc chắn rồi ra Chúa sẽ thứ tha. Chỉ cần đến toà cáo giải, là xong.

Thật sự, Bí tích hoà giải và tha thứ chỉ thành, khi người phạm lỗi biết sám hối. Biết tự hứa, sẽ xin chừa. Ở dụ ngôn Chúa kể, đó là quyết tâm của người con thứ sau khi trải qua tháng ngày u buồn sầu hận, vì sai sót. Nhờ quyết tâm sám hối của người con thứ, nên tương quan hành xử giữa Cha-con, mới hết sầu buồn sâu lắng. Tha thứ, diễn ra thực sự khi người phạm lỗi đã chạy đến thân thưa cùng Cha.

Và, người Cha hiền đã chẳng kể gì lỗi phạm của con, đã “chạnh lòng thương”, ngay khi con còn ở đằng xa. Hành xử cho phải phép, mới có thể về lại với tương quan mật thiết giữa Cha-con. Đây, chính là điều cần thiết, khi nhận biết những sai phạm/lỗi lầm, cần đổi thay. Đổi và thay, là việc cần làm người phạm lỗi biết mình bẻ gẫy mối tương quan thân tình. Với Cha. Với người anh. Với mọi người.

Tuy nhiên, có một sự rất thật trong dụ ngôn hôm nay, là người phạm lỗi đã đi bước trước, trong quyết tâm đổi thay. Quay về. Về với Cha. Và với Chúa. Đi bước trước, vì anh đoan chắc rằng mình sẽ được Cha tiếp đón, giống như xưa. Nghĩ thế, sẽ không còn chữ “nếu”, hoặc chữ “nhưng”. Chẳng đắn đo. Không đặt điều kiện. Còn, vị Cha hiền lại cũng chẳng nghĩ gì đến trừng phạt. Hoặc, bắt phải đền bù. Và, đây là ý kiến mà thánh Phaolô đã viện dẫn, ở bài đọc 2.

Thánh Phaolô xác nhận, là: chính ông từng là kẻ phạm lỗi khi tìm cách bắt bớ/gạch khỏi sổ bộ đời những người theo chân Chúa. Kịp đến khi khám phá ra được lòng xót thương vô bờ của Đức Chúa, thánh nhân đà quả quyết:“Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên chính là tôi.” (1Tm 1: 15) Chính là nhờ vào lòng xót thương của Chúa, thánh nhân tiếp: “Đức Kitô muốn tỏ bày lòng đại lượng của Người mà đặt tôi làm gương cho những ai tin vào Người, để được sống muôn đời.” (1Tm 1: 16)

Làm gương ở đây, là cho những ai tin vào Người, không như các Kinh sư/Biệt phái chủ trương thực thi luật pháp, rất từng chữ. Nhưng là:

1. Yêu thương mọi người, một cách vô điều kiện, là yêu thương không tùy thuộc hành vi hoặc động thái của người đó, đối với ta.

2. Và, làm hết sức mình, để khi tha thứ ta sẽ hoà giải được với người mà ta cứ nghĩ là họ xử sự rất không phải, đối với ta.

Thực hiện điều này thật không dễ. Bởi, đó vẫn là những thách đố/chông gai trong cuộc sống. Tuy thế, đây cũng không phải là việc không thể thực hiện được. Hãy cứ thử chọn lựa giữa tha thứ và hờn giận/ganh ghét, hoặc trả đũa. Trả thù. Cứ thử xem, người có lòng khoan dung và kẻ chuyên cay cú, hỏi rằng: ai khổ hơn ai? Chắc chắn người khổ nhất sẽ là người chọn hờn giận. Ghét ghen. Cay cú. Vì họ vẫn chưa thể tha thứ. Cũng chẳng giải hoà được với ai.

Hiểu và biết những điều trên, hẳn là ta sẽ chọn theo đường lối Chúa dạy, mà thực hành. Thực và hành, chẳng phải vì Ngài là Chúa, mới dạy ta làm như thế. Nhưng, thực và hành, vì đó là đường lối tốt nhất, để lựa chọn. Người con thứ trong trình thuật đã học được bài học này, trong đau thương. Nay có lẽ, ta cũng nên học kinh nghiệm của anh, trong cảm kích. Và, xác tín.

Xác tín những điều như thế, ta cứ tiến về phía trước, mà ca hát. Hát rằng:

“Triệu bàn chân chúng ta bước đi trên mặt đất này

Trong tim con người là một đồng lúa mới,

Ta nung sôi ý chí mặt trời

Chặt cùm xích cho quê hương mỉm cười.”

(Trịnh Công Sơn – Cho Quê Hương Mỉm Cười)

Quê hương ta hôm nay, không chỉ là mảnh đất. Mà, là quê hương, chính là lòng mình. Cõi lòng, cần chặt bỏ mọi cùm xích của ghét ghen. Hờn giận. Và, cay cú. Chặt bỏ, để thay vào đó bằng tình thương. Đỡ đần. Gìum giúp. Hết mọi người.

Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com;

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com)

Saturday, 28 August 2010

“Thôi em, nước mắt đừng rơi lã chã”


em mãi là hai mươi tuổi

Ta mãi là mùa xanh xưa.

Giữ trọn tình người cho đẹp.”

(thơ Quang Dũng)

Lc 14: 25-33

Nước mắt em, thôi đừng rơi lã chã. Thôi em nhé. Dù tuổi em. Tuổi anh. Và tuổi người, chỉ đôi mươi. Hay, cả một đời. Có là tuổi xanh xưa, tươi mát. Ta giữ mãi tình người. Nhé nghe anh. Cho đời luôn đẹp. Đẹp cả tình người. Tình Chúa. Rất hôm nay.

Tình Chúa hôm nay thánh sử đã ghi chép, để người người cố mà nhớ lấy. Nhớ mãi. Nhớ hoài một tình tự, như Tin Mừng thường vẫn nói. Nói về Tiệc, nơi Vương Quốc. Khiến người người đều vui.

Tiệc Chúa gọi mời mọi người, chẳng ai buồn đến dự. Khiến Ngài phải truyền cho gia nhân chòm xóm, chốn dân gian. Người nghèo, khốn khổ. Người què quặt, đui mù. Rày hãy đến. Đến dự Tiệc, Chúa khẩn mời bằng lời quyết liệt:“Ai đến với Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ của Tôi được.” (Lc 14: 26).

Thoạt nghe Lời, ta tưởng lời là những đối nghịch với ý Chúa muốn tỏ bày lòng xót thương. Như Ngài từng làm với nhạc mẫu thánh Phêrô. Với người Samaritanô. Và, Lazarô. Cùng chị em Maria và Martha? Phải chăng có điều gì đối chọi với lời răn: yêu thương kẻ thù?

So với Tin Mừng khác, Phúc Âm thánh Luca viết là viết cho những người theo Chúa với lời ghi chép rất đanh thép. Triệt để. Nghĩa là, ai muốn theo Chúa, nên đi trọn con đường Ngài vạch sẵn. Là, chấp nhận lối nhìn đời như Ngài muốn. Rồi quyết tâm theo Chúa đi vào hiện thực. Chứ không phải chỉ mỗi cam kết, rất hời hợt. Qua ngày. Như thái độ của người đời vẫn có. Mỗi ngày.

Rõ ràng, thánh Luca không có ý bảo: Chúa chỉ muốn ta tuân giữ lời Ngài, rất nghĩa đen. Tức, không mang ý nghĩa ghét bỏ mẹ cha. Chê cuộc sống, rất hiện tại. Ai hiểu thế, cũng có thể là người ấy sẽ chọn cái chết tự vẫn, mới đúng! Thật ra thì, hờn giận/ghen ghét và bạo động, chỉ là con đẻ của nỗi niềm sợ hãi. Khiếp kinh.

Trái lại, điều mà thánh sử ghi chép, là: ta được mời gọi tỏ lòng xót thương, yêu mến hết mọi người. Dù, họ là ai. Dù, họ chẳng quan hệ gì đối với ta. Tình yêu thực, sẽ đẩy lùi mọi hãi sợ. Hơn nữa, điều Chúa dạy, là: hãy xót thương thực sự như người Samaritanô trong dụ ngôn Tin Mừng. Như lời Chúa dạy khi ta nguyện cầu, cùng Cha. Nói tóm lại, dân con/đồ đệ của Chúa, biết mình thuộc cùng một gia đình. Và cũng biết, rằng: tất cả vẫn là anh chị em cùng nhà. Nhà của Chúa. Rất Nước Trời.

Vẫn là chuyện hệ trọng, nếu ta tiếp tục quan hệ mật thiết với Chúa. Vẫn có tương quan với mọi người anh em trong đời. Dù, họ khác chính kiến. Sắc tộc. Tôn giáo. Nghề nghiệp. Tuổi tác. Giới tính. Cung cách để đo lường mức độ mật thiết trong quan hệ với mọi người, không nằm ở giai cấp/chức năng. Nhưng, là mức độ yêu thương/giùm giúp ta dâng Chúa qua quan hệ với mọi người.

Điều quan trọng cũng chẳng ở vấn đề: ta có được người đời đánh giá thấp/cao? Cho bằng mức độ ta thực hiện chuyện giùm giúp/săn sóc với lòng thương mến, hết mọi người. Chúa gọi mời, là Ngài mời gọi mọi người cứ sâu lắng trong an bình nội tại. Bất luận vai trò/địa vị người ấy có cao sang/thấp hèn, ra sao.

Trong đối xử với mọi người, nếu chỉ thoả mãn ước muốn của người nhà mình, chẳng đếm xỉa gì đến nhu cầu của người khác, thì lúc đó ta đã xử sự không phải phép, với gia đình rộng lớn. Ở khắp nơi. Và như thế, ta đã không coi người khác như thành viên cùng nhà. Không là đồ đệ Chúa, rất đích thực. Chúa đã nói: “Những gì các người không làm cho một người nào trong các kẻ hèn mọn nhất này, là các người không làm cho chính mình Ta.” (Mt 25: 45)

Gia đình. Chòm xóm. Đất nước. Dù sai/đúng, vẫn không là khẩu hiệu tuyên truyền để lôi kéo đồ đệ về với Chúa. Bởi, cũng có lúc ta chối từ thành viên gia đình lớn. Vẫn cứ muốn ta tham gia nhóm hội đoàn thể của họ để rồi đưa ra những hành xử tai hại, thiếu quang minh chính đại. Thiếu xót thương. Ta không thể hỗ trợ người cùng nhà, mà kinh doanh lươn lẹo. Cũng không thể đồng hành chỉ với người thân, để thực hiện những động thái kỳ dị, Phân biệt. Nhưng, hãy chứng tỏ lòng xót thương/yêu mến mình vẫn có, với mọi người. Chứng và tỏ, bằng cách chống đối cách hành xử vô luân. Gây hại. Và, luôn quan ngại cho sự vui sống. Hài hoà. Của mọi người.

Lại có trường hợp tha hoá, của những người bỏ nhà ra đi. Người, chỉ biết làm lợi cho người khác nhưng chẳng quan tâm gì đến máu đỏ ruột mềm. Cùng nhà. Làm thế, là đã trái nghịch lời của Chúa, là Đấng chỉ muốn mọi người thành người thân cận. Rất cùng nhà. Từ đầu hết đến cuối hết, ở mút cùng của cuộc sống. Đó, là sự ghét ghen, mà Chúa chẳng bao giờ khích lệ.

Lòng xót thương/yêu mến mà Chúa nói, được thánh Phaolô diễn rộng ở bài đọc 2. Bằng vào thư gửi bạn Philômênon, thánh Phaolô yêu cầu bạn thân mình đón nhận người nô lệ trẻ độ trước có sai quấy. Nhưng, nay nhờ thánh nhân bảo ban, anh đã qui hồi trở thành người của Chúa. Và, thánh Phaolô cậy nhờ vào lòng xót thương/yêu mến của bạn mà nương tay coi người trẻ này “như người ruột thịt”, “trong khi tôi bị xiềng xích.” Thánh Phaolô muốn bạn mình đối xử với người nô lệ trẻ “như người anh em thân mến.” (Phi 13, 16).

Đó, là tha thứ. Là, đối xử cho phải đạo với người từng qui hồi, về với Đạo. Những người đã hồi hướng/đổi thay, cuộc đời mình. Thay và đổi, để mọi người từ nay quyết tin tưởng. Cậy nhờ. Hơn nữa, là nô lệ hay đã qui hồi làm Công giáo, thì ở tầm nhìn nào đó, anh đã là người anh/người chị đối với chủ nhân của anh, là Philômênon.

“Ghét cả mạng sống mình”, còn là điều Chúa muốn. Tức, ta nên sống cuộc đời xót thương/ yêu mến. Và, tin tưởng. Bởi, Chúa vẫn muốn cuộc sống của ta không còn những ham hố. Dính bén. Hoặc, tham vọng đầy mình. Cũng chẳng nên hãi sợ. Lo âu. Sầu buồn, mà làm chi. Hãy cứ tự do, mà sống. Vì vậy, Chúa nói: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ của Tôi.” (Lc 14: 33) Từ bỏ, là cho đi. Cho, cả chính mình. Cho, không là giảm bớt tự do để thực hiện lòng xót thương/yêu mến, rất trung thực. Vì khi đó, “Cho” chỉ là ý nghĩa của ghét bỏ, mà thánh Luca đã diễn tả. Ở đây. Nơi trình thuật này.

Ý nghĩa của câu truyện Chúa vừa kể, chỉ cốt để minh hoạ. Minh hoạ rằng, quần chúng theo Ngài đã tỏ lòng phấn chấn. Rất khởi sắc. Nhưng, vấn đề là: họ đã sẵn sàng để theo chưa? Theo như thế, có mang ý nghĩa “dứt bỏ” mọi sự chăng? Bằng không, cũng chỉ như vị vua nọ ra chiến trường, mà không bàn thảo. Tính trước. Hoặc, như người khởi công xây dựng nhà, đà hết vốn. Không tính trước, sẽ bị mọi người cười chê. Thất bại.

Giả như người Công giáo chúng ta cũng đang trên Đường theo Chúa, mà không nhận ra những gì cần tính trước, rồi cũng sẽ thành trò cười cho thiên hạ. Cũng thất bại thôi. Tuy nhiên, ngôn từ của trình thuật hôm nay dù mang tính chất rất tiêu cực, cũng chỉ để nói lên rằng: ta sẽ để luột mất niềm an vui/hạnh phúc nơi cuộc sống mà Chúa đem đến. Hiến tặng cho ta. Cho mọi người.

Nhận thức ý nghĩa Chúa nhắn nhủ, ta cứ hiên ngang ngẩng đầu tiến bước, mà vui hát. Rằng:

“Cả một trời yêu bao giờ trở lại

Ôi ! Ta xa nhau tưởng chừng như đã

Ôi ! Ta yêu nhau để lòng cứ ngỡ

Tình bất phân ly - tình vẫn như mơ

Đành nhủ lòng thôi giã từ kỷ niệm

Cho qua bao năm mộng buồn quên dấu

Nhưng sao bao năm ngày dài qua mãi

Trong anh hôm nay thấy tình còn đây.”

(Trần Quảng NamMười Năm Tình Cũ)

Tình cũ. Hay, hiện thời. Vẫn là tình của Chúa. Của mọi người. Trong đời. Tình, bất phân ly. Như mơ. Dù trải “qua bao năm mộng buồn quên dấu”. Vẫn còn đây.

Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc:www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )

Saturday, 21 August 2010

“Nhớ khi em dỗi em hờn”

Hai ta chia sẻ nắm cơm cháy vừng.
Nhớ đêm nằm võng ngó trăng,
Đếm ngôi sao sáng lại rằng sáng sao.”
thơ Diệp Chi)

Lc 14: 1, 7-14

Chia sẻ nắm cơm. Khi em dỗi hờn. Ngồi đếm sao. Khi sao lại sáng. Vẫn là tâm tình của anh. Của em. Của người. Rày vẫn nhớ. Còn nhớ hay chăng, hỡi người người. Hỡi em, và hỡi anh. Nhớ Lời dặn của Đức Chúa, ở trình thuật rất hôm nay.

Trình thuật, nay thánh Luca gợi nhớ dụ ngôn Chúa kể, để khuyên rằng: “Nước Trời giống như bàn tiệc”. Có sẻ chia. Những nắm cơm, vừng cháy. Của dân gian khắp chốn, ở đời người. Một đời, có những ngày mọi người đều sinh hoạt rất đặc biệt. Như Chúa làm.

“Một ngày Sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh Pharisêu để dùng bữa.” (Lc 14: 1) “Đến” ở đây, có thể là dịp để mọi người tỏ bày tình thương, rất huynh đệ. Nhưng, thánh sử lại viết: “Họ cố dò xét Ngài.” Dò xét, không phải để thán phục. Tò mò. Mà, xem Chúa có làm điều xằng bậy, ngày lành thánh. Để, có cớ mà “sửa lưng” Ngài. Và lên án, cả khi Ngài chưa nói đến một điều.

Dự tiệc ngày Sabát, Chúa không sợ nói với con người qua dụ ngôn. Bằng vào dụ ngôn, Ngài nói thẳng với thực khách. Những lời sau, là với chủ nhà. Bằng vào hai dụ ngôn, Ngài mời mọi người để tâm vào điều Ngài sắp nói. Điều ấy, vẫn là bài học để đời cho tất cả. Không chỉ một người.

Dụ ngôn đầu, là về phản ứng của thực khách khi ngồi bàn. Và, thánh sử lại đã ghi: “Ngài thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi.”(Lc 14: 7) Phàm các buổi tiệc tùng ở thị thành, chỗ ngồi là chuyện rất tế nhị. Trọng khinh. Ai quan trọng, đều ngồi gần chủ tiệc. Còn lại, chỉ là những người thân cô thế cô, rất xa vời. Có buổi tiệc, vị chủ mời còn đề tên thực khách trên tấm giấy, đặt ở trước. Ở đó, còn ghi rõ vai vế. Chức vụ. Mới đáng sợ. Ở tiệc cưới, có người còn kỹ hơn. Ít ai được ngồi gần nhà đám. Ngoại trừ người thân. Hoặc, đấng bậc có vai vế, rất quan trọng.

Với Chúa thì khác. Ngài chuyển đổi thứ tự của dân gian, người đời. Và căn dặn: “Anh em đừng chọn cỗ nhất mà ngồi.” Bởi, có thể là anh sẽ bị mời xuống ngồi ở bên dưới. Chốn thấp hèn. Ở nơi đó, sẽ buồn rầu. Chán nản. Với nhiều người, bị mời như thế đồng nghĩa với thiên tai. Cũng tai hại, cho thanh thế, trong giao tiếp. Thật ra, Chúa chẳng muốn người nghe hiểu dụ ngôn Ngài kể, theo nghĩa đen. Điều Ngài muốn nói: nơi Nước Trời, chỗ ngồi không là chuyện hệ trọng. Như ngoài đời.

Quan hệ với Chúa, với anh em, thứ tự trên dưới theo tôn giáo, sắc tộc, nghề nghiệp, giai cấp, chẳng là gì. Hệ trọng chăng, là mức độ yêu thương/phục vụ ta chứng tỏ với Chúa, qua tương quan với mọi người, thôi. Hệ trọng chăng, là: không nên sợ người khác đánh giá mình rất thấp. Nhưng quan trọng, là mức độ chăm lo/giùm giúp ta xử sự với mọi người.

Ở bài đọc 2, thánh Phaolô nhấn mạnh đến điều quan trọng như sau: “Anh em đã tới núi Xion, thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời… Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời.” (Dt 12: 22) Đó mới là điều quan trọng. Chứ không phải chỗ ngồi. Trên dưới.

Dụ ngôn tiếp, là điều Chúa muốn trực chỉ vị chủ tiệc, tức thủ lãnh nhóm Pharisêu: “Đừng mời bạn bè, bà con anh em, hoặc láng giềng giàu, kẻo họ cũng mời ông như thế, và ông đã được đáp lễ.” (Lc 14: 12) Nhìn vào xã hội hôm nay, chừng như người người vẫn làm như thế. Tiệc tùng nay cũng thế. Dự tiệc đình đám lễ hội vẫn cứ là can dự chuyện buôn bán. Kiếm tiền. Hoặc làm thân, vì mục đích đen tối? Tham ô? Nhũng loạn?
Chúa thì khác. Ngài đưa ra một đề nghị, ít khi thấy: “Khi đãi tiệc, ông hãy mời những người nghèo, tàn tật. Què quặt. Đui mù.” Tức, những người không có khả năng mời lại. Cho lại. Dù chỉ để tiến thân trong xã hội chú trọng đến điạ vị. Thứ hạng. Thế đứng. Để có chỗ ngồi.

Thần học gia Matthew Foc có lần nhìn đời như một chiếc thang dốc hoặc vòng quay tròn. Sống đời leo thang, người người có khuynh hướng cố leo, cố trèo lên đỉnh chóp. Cứ thấy mình mãi còn ở dưới, là cố gắng đạp người khác xuống, để mình lên. Với xã hội người đời, ăn trên ngồi chốc hoặc leo thang lên dốc, là tìm leo đến mút cùng. Chóp đỉnh. Dù, đó có là chốn doanh thương, thi cử, hay chỉ một chỗ ngồi, trên xe buýt. Bởi lẽ, xã hội ta sống là xã hội thang dốc, khuyến khích để ta leo.

Trình thuật đề nghị ta thiết lập một xã hội theo vòng tròn. Ở nơi đó, không có chỗ cho vị thế cao/thấp, trong/ngoài. Tất cả vẫn ngang hàng. Người người cùng giáp mặt. Tất cả đều định vị ở nơi chỗ tốt nhất. Nơi đó, người người đều quen biết nhau. Tôn trọng nhau. Đều ở vào vị thế sẻ san những gì mình đang có, mà lo cho những người hiện còn thiếu thốn. Hãy cứ đặt để bàn tròn. Cho mọi người. Tiệc sẵn sàng. Ai cũng đều có phần, khỏi cần lo. Mỗi người đều dùng đũa gắp mà tiếp tế thức ăn cho người ngồi cạnh. Hoặc, đối diện. Tiệc Nước Trời là tiệc sẻ san. Rất như thế.

Đó, có là điều không tưởng? Thiếu thực tế? Với xã hội phương Tây, chuyện ấy thật khó thực hiện, sớm chiều. Có khi phải mất cả thế hệ. Nhưng, áp dụng từ gia đình nhỏ. Nhóm hội, như cộng đoàn giáo xứ, cũng là điều hay. Rất nên làm.

Tiệc Thánh ta tham dự, nay mang dáng dấp một sẻ san. San và sẻ, cả bánh rượu. San và sẻ, Thân Mình và Máu Thánh của Đức Chúa. San và sẻ, Lời Chúa trong Tiệc Lòng Mến. Tiệc của gia đình lành thánh. Ở đó, đâu có chuyện phân chia trên/dưới, thấp/cao.
Tiệc Thánh là Tiệc của gia đình rất lành và rất thánh. Mọi thành viên trong đó đều vui vẻ. Phấn chấn. Cởi mở. Chẳng bao giờ cãi tranh. Giành giựt, dù chỗ ngồi. Hội thánh thời ban sơ đã thực hiện Tiệc Lòng Mến, rất như thế. Hội thánh hôm nay, chắc cũng không ngại ngần hiện thực đề nghị Chúa đưa ra nói trình thuật, hôm nay.
Trong khí thế chấp nhận đề nghị Chúa đưa ra, ta hãy vui hát những câu ca rất diễm tình, rằng:


“Chiều hôm nao, tiếng hát bay cao
Quỳ bên nhau, trước Đấng Tôi Cao
Hứa yêu nhau, trao câu thế,
Chung sống trọn đời.
Rồi mai đây, kiếp sống có đôi,
Đời buồn vui, mãi mãi bên nhau.
Khấn xin Mẹ, thương dắt dìu
Tình yêu dâng cao.”
(Thành Tâm – Diễn Tình Ca 3)


Hứa yêu nhau, không chỉ là lời hứa giữa hai người. Mãi bên nhau, không chỉ là quyết tâm của đôi lứa. Nhưng là, những quyết và tâm, của mọi người. Những người con của Mẹ thánh Giáo Hội. Của cuộc đời. Ở Nước Trời.


Lm Phan Đỗ Thục Linh
Mai Tá diễn dịch