Saturday, 25 October 2014

“Người mới lớn vung tình ra thẳng tắp,”



Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 31 mùa Thường niên năm A  02-11-2014

“Người mới lớn vung tình ra thẳng tắp,”
“Không so đo, cân nhắc phút giây đầu”.
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mt 23:1-12
Tình người dù vung thẳng tắp, có so đo hoặc cân nhắc, thì người đời cũng chẳng khi nào cân nhắc những âu lo cho chính mình một đời phúc hạnh, như trình thuật Tin Mừng từng nhắc nhở.     
Trình thuật, nay thánh Mát-thêu lại nhắc-nhở cho thấy có sự khác biệt giữa Đức Giêsu và các nhà lãnh đạo tôn giáo, về phúc hạnh sống ở đời. Sống phục hạnh, lâu nay vẫn có khác biệt giữa hành-xử của giai cấp lãnh đạo cứng đầu so với dân đen thấp hèn, bèn phấn khởi bước đi theo chân Chúa khi nghe Chúa dạy đã quyết làm.
            Bài đọc 1, tiên tri MaLaKi cũng quả quyết: “Các ngươi đã đi trệch đường; đã làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh rẻ, hèn mạt trước mặt dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối của Ta; hay nể vì, khi áp dụng Luật.”(Ma 2: 8)
            Trình thuật, nay thánh-sử còn kể về việc Đức Giêsu không đả kích nhóm Pharisêu/Kinh sư hoặc Biệt phái, nào hết. Bởi, nhiều người trong nhóm hội do họ dựng, lại là thủ-lĩnh được kính trọng, nể vì. Ở trình-thuật hôm nay, Đức Giêsu chỉ lên án, thái độ kiêu căng ngạo mạn khi giới lãnh-đạo trong ngoài Đạo, vẫn suy tư/hành xử theo kiểu cách khiến kẻ thấp hèn quyết là họ đáng bị chê trách.
            Điều dễ chê trách, không là sự thật về niềm tin mà Biệt Phái/Kinh Sư đưa ra cho mọi người. Nhưng, là chê-trách lối hành-xử bêu xấu, báng-bổ lời của Chúa, thôi. Nói cách khác, họ nói năng/khuyên răn một đàng, nhưng lại sinh-hoạt/hành-xử theo nẻo khác. Vẫn cứ “tiền hậu bất nhất”, chẳng sống như người tốt lành/hạnh-đạo để làm gương.
Đằng khác, điều đáng trách ở nơi các nhà lãnh-đạo tôn-giáo, chính trị lẫn gia đình, là: cứ áp-đặt, ràng buộc thật nặng nề lên đầu lên cổ của người khác. Trong khi chính mình, chẳng ra tay phụ-giúp mọi người chu-toàn, thi-hành luật-pháp, theo chính-danh.
            Điều đáng chê hơn cả, lại là: động-thái muốn hưởng lợi, vẫn “ăn trên ngồi chốc” cứ tưởng rằng: thành quả mọi người đạt được, là do công lênh mình bỏ ra. Bởi thế nên, họ nghĩ mình đáng hưởng công, đáng được mọi người thuần-phục, kính-nể. Chí ít, cần được hưởng vinh hoa phú quý, cơm áo gạo tiền bất kể những thứ đó do công-phúc của một ai.
            Do có thái-độ chỉ biết hưởng-thụ, nên lớp “trưởng giả” ở bên trên, lại suy nghĩ: mình đáng được thần-dân bên dưới tặng-ban mọi tước-hiệu, cũng xứng đáng. Họ nghĩ suy: mình vốn dĩ là vua quan/lãnh chúa, những “đức ngài” là thầy, là “cha già dân tộc” nên càng đáng được hưởng phúc đức do cha ông để lại. Họ mua chuộc mọi danh-chức/tước-hiệu, bằng tiền bạc, trong khi đó, lại phản-chống hoặc quên lãng lời Chúa dạy, nên mới thế.
            Điều, Chúa dạy hôm nay: chính Ngài mới là cội nguồn của sự sống. Chỉ mình Ngài, mới thích đáng với thẩm-quyền và danh xưng là “Ngài” hoặc “Đức Chúa”, thôi. Còn riêng ta, ta cũng sẽ là người đáng nể-trọng nếu ta biết phục-vụ người anh em thấp hèn, ở dưới cho phải phép.
            Quả thật, “áo dòng không làm nên thày tu”. Bởi lẽ: đâu phải cứ có người cầm vương trượng/gậy gộc đi phía trước mình, mới biểu tỏ mình là đấng bậc người lớn, rất chính danh, đâu. Cũng chẳng phải, cứ có người nào khác nhường bước, tránh chỗ cho mình đi, tức có nghĩa: mình là đấng quyền cao chức trọng, đáng nể vì! Có là đấng bậc vị vọng, lên xe xuống ngựa đủng đỉnh, đuợc kẻ đưa người đón, có đầy tớ quân sai; hoặc, thường xuyên xuất-hiện trên “đài”, tức là mình đã lên ngôi, rồi đâu nữa.
            Chỉ là người cao-trọng, nếu ta biết sử dụng tài ba/năng khiếu Chúa tặng-ban, quyết làm lợi cho dân lành chung quanh, mới đúng. Làm theo lời Chúa dạy, vẫn chưa đủ để chứng tỏ mình là người cao trọng, hợp lẽ. Hơn thế nữa, điểm chính mà trình thuật hôm nay đưa ra, là: khi xưa hàng ngũ giáo-sĩ Do Thái chỉ mỗi biết “chỉ tay năm ngón” sai khiến mọi người rồi cứ tưởng: Lời Chúa dạy là dạy ai khác, chứ đâu dạy chính họ. Nên, họ chẳng lý gì đến tự kiểm, chẳng bàn gì đến sám hối, đổi thay.
            Bài đọc 2, thánh Phaolô đề-cập đến kinh-nghiệm bản thân của thánh-nhân. Nói về các lãnh tụ tôn giáo, thánh nhân thường bảo: “Không khác gì người mẹ nuôi con dại ấp ủ con mình, chúng tôi thật lòng quý mên anh chị em. không chỉ qua Tin Mừng  -bởi điều đó không khó-  nhưng bằng cả mạng sống của chúng tôi”. (1Th 2: 7).
Không như nhóm Pharisêu/Biệt phái, thánh Phaolô chẳng muốn trở-thành gánh nặng cho bất cứ một ai, nhưng thánh-nhân chỉ muốn sao cho Tin Mừng trở nên “quyền uy sống động”, với các kẻ tin được ngài hướng-dẫn cách sinh sống. Bởi, Tin Mừng giải phóng mọi người. Giải toả gánh nặng cho muôn dân theo cung-cách khiêm-nhu hiền-lành, mà thôi.
            Thánh-nhân vẫn xác định: “Bởi, anh chị em đã chịu lấy Lời của Thiên Chúa từ chúng tôi; anh chị em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như lời của Thiên Chúa.” (1Th 2: 13)
Với bậc phụ huynh, linh mục và giáo chức, cũng đều phải như thế. Thật ra, ta chỉ là kênh/lạch thông-chuyển và đón-nhận Lời Sự Thật. Ta vẫn chưa nắm vững được Lời, mới chỉ là người quản lý, giữ gìn Lời của Chúa, thôi. Quyền-uy đích-thực, chính là quyền của Lời. Quyền của Sự Thật. Của Tình Thương vẫn rất mực.
            Những người được ta phục-vụ, phải nắm vững rằng: những gì ta thông-chuyển, không xuất tự chúng ta, mà theo ngôn từ thánh Phaolô vẫn sử-dụng, thì: ta chỉ là chiếc máng thông, rất dễ bể. Vì thế nên, ta cũng đừng tỏ ra ngạo-mạn cho rằng mình nắm vững chân lý đích-thực, của Đức Chúa.
Ngược lại, ta chỉ là người sẻ-san mọi điều tốt-lành cho các người anh người chị ở đời, mỗi thế thôi. Nơi đấng bậc vị vọng hoặc giáo chức lẫn phụ huynh con em, luôn có khía-cạnh yếu mềm, dễ thương tổn. Thế nên, vẫn luôn phải đề cao cảnh giác, hết mọi sự, để rồi mình sẽ không bị “hố”.
            Trong chiều hướng ấy, tự thân Hội-thánh dư biết mình chẳng kỳ-vọng gì nơi dân con/đấng bậc sống hoàn-thiện. Trong quá khứ, các vị ấy từng sống xa cách/tách rời dân con bình thường của mình. Các “ngài” chuyên sống ở trên cao, chốn “tháp ngà” xa hoa, lẩn tránh mọi người ở chốn thấp hèn, rất bên dưới. Trong khi thực-chất của sự việc, người người vẫn cứ bắt gặp toàn những va-chạm, gương mù gương xấu, rất vỡ đổ cũng từ các “ngài” mà ra.
Gương xấu và tai tiếng, cỏn xảy đến với cả,phụ huynh, lẫn nhà giáo. Đó, là chưa kể các chính-trị-gia, giới hành-nghề lành-thánh “chuyên ăn trên ngồi chốc” đám dân đen. Vị nào cũng muốn hào-quang thánh-hoá toả chiếu trên đầu mình; nhưng trên thực tế lại rất tồi-tệ. Và, điều Chúa thực sự chê-trách, lại chính là thái-độ giả-hình ta thường vướng mắc.
            Thực tế là, càng nghĩ đến chuyện “ăn trên ngồi chốc”, ta càng dễ bị khuynh đảo, hạ gục. Chỉ khi nào, ta biết hạ mình mà phục vụ người anh người chị ở đời mình như người nhà, lúc ấy ta mới được cảm thông, hỗ trợ và hợp tác, hầu dẫn-dắt mọi người đến gần Chúa. Những người như thế, ta chẳng còn lo sợ gì chuyện cô đơn/lạnh lẽo, sống một mình ở trên cao tít chốn hạnh đạo, nữa.
            Là dân con trong Đạo, ta hiểu được tâm-trạng yếu mềm của bậc cha mẹ, hoặc người lớn. Là thần dân, ta cũng cảm-thông với nhược-điểm của các nhà lãnh-đạo, ở đây đó. Chính vì có nhược-điểm, nên các “ngài” càng dễ biểu-lộ tính nóng-nảy/bực bõ, qua nhiều hình-thức. Chí ít, là chủ-trương khắt-khe với mọi người, nhưng lại dễ dãi với chính mình.
            Là thành-viên của cộng-đoàn tình-thương, ta vẫn có nhiều trách-nhiệm để chu-toàn. Trách-nhiệm rất khác-biệt. Có thứ đòi hỏi rất nhiều điều. Có loại cần nhiều năng-khiếu, cũng như biệt tài để phục-vụ nhu-cầu của người anh em mình trong cộng-đoàn. Có thể, vì chức-vụ đòi hỏi, đôi khi ta cũng cần tài xế, cần “lên xe xuống ngựa”, nhưng không để vênh-vang, thụ-hưởng, mà cần-thiết để hoàn-thành chức-năng, cùng sứ-vụ cho nhiều người.
            Trình thuật hôm nay, gửi đến mọi người lời kêu gọi tất cả hãy sống xứng-đáng với phẩm-cách, cùng chức-năng của mình. Không nên lấy đó làm điều vênh vang, trổi bật cho riêng mình đổi lại, cứ khắt khe với người khác. Chẳng nên đòi người khác kính-nể vì mình làm lớn sống trên cao. Nhưng, hãy kính-trọng nhau, coi nhau như người có quyền-lợi đồng đều, dù phẩm trật khác-biệt. Trong mọi tình-huống, hãy mong phục-vụ thật nhiều người, san-sẻ mọi thứ để mọi người có quyền-lợi đồng đều, và ngang nhau.
            Trong cảm-nghiệm những điều bậc thánh-hiền khuyến-khích, cũng nên ngâm lại lời thơ dân-gian những hát rằng:

            “Người mới lớn vung tình ra thẳng tắp,”
             Không so đo, cân nhắc phút giây đầu.
             Như tên bay chưa kịp nhắm bia nào,
             Khi kiệt sức cam đành…ghim xuống đất”.
             (Nguyễn Tất Nhiên – Lần Cuối)

            Đời hạnh-đạo con người nay cũng thế. Khi kiệt sức, cũng cam chịu nhiều thất bại, chí ít là thất-bại cả vào khi người người chẳng còn biết lắng nghe lời thánh-hiền từng khuyên nhủ, ở đâu đó.  

            Lm Richard Leonard sj          
            Mai Tá lược dịch.

Saturday, 18 October 2014

“Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quì,”



Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 30 mùa Thường niên năm A  26-10-2014

“Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quì,”
“Sấp mặt xuống, uốn mình theo dáng liễu”.
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mt 22: 34-40
Sấp mặt, uốn mình trước ngưỡng cửa bóng trăng quì, là tư thế vẫn riêng biệt của nhà thơ. Lời nguyện gẫm, xanh như màu huyền diệu, lại vẫn là lời gẫm nguyện của dân con người Việt, được kể ở nhiều nơi. 
Một giáo dân người Việt kể cho tôi nghe về nỗi gian truân anh chịu trên bước đường lưu lạc, tạm  dung nơi xứ người. Tên anh là Nguyễn Văn Mạnh, con trai một gia đình đông con gồm 8 trai, 4 gái. Năm 1978, ba mẹ anh, tuy là nông gia chất phác chẳng biết nhìn xa trông rộng, nhưng cũng thấy được tình hình nguy cập không thể chăm nổi đàn con 12 đứa, đã quyết định cho một cháu đi vượt biển, nên đã gửi cháu lên tàu theo đám người vượt biên, vượt biển. Hành trình của những người này đầy hãi hùng, kinh khiếp, những nguy cơ bỏ xác nơi biển Đông.
            Bốn giờ sáng hôm ấy, có tiếng gõ nhẹ nơi cửa, Mạnh chào ba mẹ lần cuối để từ biệt. Và, đó đích thực cũng là lần cuối trong đời, anh còn được thấy mặt mẹ cha. Vừa, bước ra khỏi nhà, là anh đã được bịt mắt, dắt lên xe tải đưa đi theo đường giây, được giữ kín. Hành trình kéo dài suốt 8 tiếng đồng hồ, ngang qua nhiều khu rừng rậm rạp.
            Cuối cùng, anh cũng tới được bãi đáp vắng, lạ. Đến đây, vừa cởi băng bịt mắt ra, anh mới biết là mình còn sống. Mạnh kể lại: “nếu chẳng may gặp phải những người thất đức, chỉ biết tính toán ăn chặn tiền bạc, thì chắc anh đã bỏ xác ở đâu đó, giống như nhiều gia đình có con ra đi biệt tăm, vô âm tín”.
            Anh Mạnh còn kể: chúng con rất may là được đưa lên chiếc “tắc xi” ra gặp “cá lớn”. Ghe bầu được gọi là “cá lớn” chỉ có sức tải chứa tối đa là 10 người, thế mà họ cũng chất nêm chất nệm đến 29 mạng. Thực phẩm - xăng dầu - nước uống, không được trang bị chu đáo cho chuyến đi dài ngày, đến hai tuần.
Mọi người trên chiếc xuồng câu ọp ẹp đều mệt lả, đói khát và bệnh tật vì phải phơi nắng suốt tuần lễ, đến khô miệng. Bọn cướp biển người Thái bắt gặp đã không hề nương tay. Họ nhẫn tâm hãm hiếp mọi phụ nữ họ gặp ở trên ghe, vứt xác 6 người xuống biển vì những người này không còn đủ sức chịu đựng, được nữa.
            Vừa nhìn thấy đất liền, là 20 người còn lại tưởng chừng hy vọng sống sót đã gần kề, ai ngờ Hải quân Mã- Lai tuân lệnh cấp trên, đã dùng súng xua đuổi thuyền nhân người Việt, quay trở ra hải phận quốc tế, không thương tiếc. Anh Mạnh nói tiếp: “Vào giờ phút đen tối ấy, con như đã mất hết niềm tin vào Chúa và Đức Mẹ, lẫn cả tình nguời. Chỉ biết có chờ chết, mà thôi.”
May cho Mạnh gặp được tàu buôn người Hà Lan cứu vớt cho nước, tặng thực phẩm, xăng dầu và cặp mạn đưa về đất liền Phi Luật Tân chờ một đệ tam quốc gia tiếp vớt. Cuối cùng, Mạnh được nước Úc chấp thuận cho tạm dung.
Một năm sau đó, anh đặt chân lên Sydney, ổn định cuộc sống. Nay, sau nhiều năm cố gắng cần cù, anh đã ra trường với mảnh bằng bác sĩ y khoa, quyết quay lại giúp đỡ cộng đồng ở vùng quê suốt 2 năm liền, không nhận thù lao.
            Sách Xuất hành hôm nay, Đức Chúa nói với Môshê:

“Ngươi không được ngược đãi, áp bức các ngọai kiều
vì chính ngươi cũng từng là ngọai kiều trên đất Ai Cập.”

Ở Tin Mừng Mat-thêu, Đức Kitô cũng khẳng định:

“Các con hãy yêu mến Đức Chúa
và thương yêu người thân cận hết lòng trí và tâm hồn,
cho phải phép”.
           
Riêng tôi, tôi lại nghĩ: đối với thế giới Tây Phương, hiện nay chẳng có vấn đề nào cấp bách mời gọi chúng ta thi hành triệt để cho bằng vấn đề đối xử với các di dân, tị nạn. Dạo gần đây, nhiều nước trên thế giới đã có lòng tốt đón tiếp những người chọn lựa rời bỏ hoặc ra đi thoát khỏi nơi chôn rau cắt rốn của mình.
Vốn sẵn lòng giàu sang có của dư Trời cho, như nước Úc, thì việc đón tiếp những người mang phận hẩm hiu, cũng là chuyện đương nhiên, dễ hiểu. Càng dễ hơn, khi các nước phương Tây chúng ta, nay cũng đã định ra quota số lượng người mỗi năm, để thâu nhận họ vào cửa ngõ nhà mình hầu tạm dung, vì lợi ích chung.
            Tin Mừng hôm nay, Đức Kitô không hứa trước với ta rằng: việc chứng tỏ mình mến Chúa và yêu người lân cận, không phải là không gây cho chúng ta những hao tổn tiền bạc. Nhưng luật thương yêu người lân cận mà Chúa dạy, luôn kéo theo những đòi hỏi hy sinh cao độ. Đòi hỏi ấy, được gửi đến cho chúng ta với tư cách cá nhân, đoàn thể, hay đất nước. Nếu công nhận lời dạy của Chúa, ta cũng phải có quyết tâm đùm bọc người lân cận của mình nữa.
Ở đoạn khác trong Tin Mừng Matthêu, Đức Kitô còn nhắc nhở: Ai nhận nhiều, sẽ phải cho nhiều”. Điều đáng buồn, là: nhiều người trong chúng ta, đều muốn có đời sống tốt đẹp, nhưng lại ít ra tay nghĩa hiệp giúp người khác/nước khác kiến tạo chốn “đất lành chim đậu, thật dễ sống. Rốt cuộc, có khi chúng ta cũng đã chối từ san xẻ mọi tốt lành ta đã hưởng hoặc tạo được, do cần cù lao động, mới có được.
Thánh Matthêu còn kể cho ta nghe câu chuyện về Đức Maria, thánh Yuse và Đức Kitô đã phải rời Israel, để tá túc bên Ai Cập, sống kinh nghiệm của “người di tản buồn”. Ngày nay, nếu Gia Đình rất thánh của Đức Kitô cũng lại đến với ta, xin định cư giống như, hoặc qua những người tị nạn hôm nay, thì chắc các Ngài cũng sẽ bị tống về cho Hêrôđê giải quyết, thôi.
            Cầu mong tiệc thánh hôm nay giúp ta có được đổi thay tận đáy lòng để ta biết hành xử cho đúng, với mọi người. Ở khắp nơi. Mọi người, có nghĩa và có thể là: người cận thân hoặc cận lân. Cũng có thể, là: khách lạ tị nạn hoặc bạn bè thân quen, đang túng quẫn.
Túng và quẫn, không chỉ về thể xác. Túng và quẫn, còn có nghĩa tinh thần và trí tuệ nữa. Họ là, những người không cần được cung chúc “cái sự sang” hoặc “có quan có tước” đầy mình. Nhưng, vẫn chỉ muốn làm giáo dân hạng thứ, hoặc dân thường ở huyện. Chỉ muốn xin 2 chữ: Bình an. Yên lành.
            Trong tâm-tình suy-tư như thế, ta lại cũng trở về với lời thơ, những ngâm rằng:

            “Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quì,
Sấp mặt xuống, uốn mình theo dáng liễu.
Lời nguyện gẫm, xanh như màu huyền-diệu,
Não-nề lòng viễn khách giữa cơn mơ.
Trời từ-bi cảm-động ứ sương mờ,
Sai gió lại, lay hồn trong kẽ lá”.
(Hàn Mặc Tử - Hãy Nhập Hồn Em)

Say hồn hay nhập hồn, vẫn là những động-thái của gẫm suy, bài quì sụp lạy trước trăng mờ, hay sao đó. Gẫm suy và quì lạy, là tư-thế của dân con nhà Đạo quyết nguyện-cầu với Chúa và với nhau, tuy có mau có lẹ, nhưng vẫn là động-thái êm/nhẹ đôi lúc cũng xuất-thần của nhiều người, cả từ trước lẫn hôm nay, ở Nước Trời cần khuyến-khích.

Lm Richard Leonard sj
Mai Tá lược dịch.   

           

          


Saturday, 4 October 2014

“Em tự ngàn xưa chuyển buớc về,”



Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 28 mùa Thường niên năm A  12-10-2014

“Em tự ngàn xưa chuyển buớc về,”
“Thuyền trao sông mắt dẫn trăng đi”.
(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)
Mt 22: 1-14
            Chuyển bước về, người người đều chuyển từ thuyền, từ sông nước có gió ngàn lồng lộng, rất trăng sao. Chuyển bước thời hôm nay, nhà Đạo mình cũng cứ chuyển, nhưng vẫn mang nặng một tình-tự thân-thương, đằm thắm của nhiều người.
Thời buổi hôm nay, nhiều người vẫn chuyển cho nhau những tình-tự thân thương như tình vợ chồng trẻ cứ muốn cho con cái mình kinh qua hành-trình lĩnh-nhận Thanh Tẩy, vì nhiều lý do rày rất khác. Với một số người thời Hội thánh tiên khởi, rõ ràng Thanh Tẩy là nghi-thức chú-trọng nhiều đến việc đặt tên, nêu tuổi.
Cũng có người quan-niệm đây là nghi-tiết khởi đầu, để rồi sẽ có buổi vui ăn uống, mừng em bé. Người khác hỏi đến, cũng chẳng biết rõ tại sao mình lại muốn thế. Tuy nhiên, họ vẫn nghĩ: có làm thế, mới đúng phép Đạo, như mọi người. Với một số cha mẹ khác, thì họ nay hiểu rõ nguồn-gốc mọi chuyện, nên muốn truyền lại cho con, những gì mình học hỏi, đó là sự sống của Đức Chúa. 
            Mỗi khi cử-hành nghi-thức thanh-tẩy, tôi thường giải-thích cho mọi người hiểu rõ rằng: ở 3 thế kỷ đầu đời của Giáo-Hội, bí-tích thanh-tẩy được thực-hiện vào lúc trời tờ mờ sáng, sau lễ Phục Sinh. Làm thế, không chỉ để ăn-khớp với lễ Phục-Sinh của Chúa cho đồng bộ, mà vì muốn giữ kín sự việc con dân lĩnh-nhận Thanh-tẩy, cho an-toàn.
Ròng rã hơn 300 năm trước, tín-hữu Chúa nhận thanh-tẩy vào buổi sáng, còn để các vị có thể đi vào cõi chết, giấc buổi trưa. Với họ, thanh-tẩy không có nghĩa đi ra ngoài để sinh-hoạt, mà là có sự sống và có cả sự chết nữa.
            Qua dụ-ngôn tham-dự Tiệc, Đức Giêsu muốn mọi người biết, rằng: có những người cứ tưởng mình đương-nhiên sẽ trở-thành tín-hữu, nên đã khước-từ. Ngược lại, cũng có người trong Đạo, lại tưởng rằng mình sẽ chẳng bao giờ đáp-ứng được lời gọi mời của Chúa, nên vẫn gia-nhập chiên đàn Hội-thánh, rất hăng say.
            Vào những ngày đầu, khi đề-cập đến Tiệc cưới, Giáo-hội Chúa đều ám-chỉ hai việc: một, Tiệc Thánh là Tiệc Lòng Mến. Tiệc, cuộc sống vĩnh-cửu. Lạ thay, khi dùng ảnh-hình của buổi Tiệc có ăn và có uống, dụ-ngôn Chúa kể đưa ra, ít nói đến thịt thà - thức ăn, nhưng lại cứ nói đến cảnh người ra/kẻ vào, trong thánh lễ. Tại sao thế?
            Điều này, cho thấy: thái-độ của người được mời đã bỏ lỡ cơ-hội đến với Tiệc cưới của Hoàng-gia, là điều ít thấy xảy ra, nơi thế-trần. Điều thường thấy hơn, là thái-độ của dân con bần-hàn, đã nhận ra món quà quí giá, được ban phát.
Nhận ra, cả người ban tặng, nên họ mới “ăn vận” cho đúng cách và biết rõ nơi mình sẽ đến, là nơi đâu/chốn nào. Ngược lại, cũng có người không biết cách xử-thế cho đúng với hoàn- cảnh/địa-vị của mình, nên đã không nói thành lời, khi được mời.
            Những người theo cách-thế thứ hai, là cộng-đoàn dân Chúa vào thời đầu. Là, những vị dám lĩnh-nhận nguồn nước thanh-tẩy. Nhưng sau lại gian-dối, bội-phản cộng-đoàn các thánh, vào thời bách hại. Khi các thánh khám-phá ra chuyện đó, đều thấy rằng: thực-khách theo cách thứ hai, không có đủ tư-cách tham gia, nên đã bị loại trừ.
Nơi cộng-đoàn thời thánh-sử Mát-thêu, thì: hầu hết những người gian-dối đều phải trả giá rất cao, bằng chính cuộc sống của mình. Bởi thế nên, sự việc hồi-hướng trở về với Đạo của Chúa, cũng trở-thành sự-kiện cần đắn đo, suy-nghĩ.
            Thời hôm nay, chuyện dụ-ngôn ghi ở trên, có ý-nghĩa gì đối với mỗi người chúng ta? Chắc chắn, Tin Mừng không đặt vấn-đề bảo rằng: ta nên ăn vận thế nào cho phải phép, khi đi tham-dự thánh-lễ của Lòng Mến. Cũng chẳng ai hỏi: ta có thái-độ sống ra sao, khi mọi người đều nghĩ về đời sau, chốn vĩnh hằng là nơi mình đạt đến mãi sau này.
Dụ ngôn hôm nay, không cốt ý nói đến những hãi hùng/lo sợ mỗi khi ta ra trước toà án để chịu cuộc phán xét mà người xưa gọi là “trả lẽ”, sẽ phải xử-sự thế nào? Ăn làm sao nói làm sao?
Nhưng, điều mà dụ-ngôn muốn nêu thành vấn-đề, chính là: ta phải trở thành  người khó-nghèo, bần hàn cho đủ hoặc đúng cách, mới nhận ra được quà tặng Chúa phú ban, khi Ngài mời gọi ta gia-nhập cộng-đoàn niềm-tin mà Hội-thánh vẫn đời chờ. Có là người rộng lượng đủ, ta mới có thể đáp-ứng lại lời kêu mời, khẩn thiết của Đức Chúa.
            Bởi một lẽ, khi nêu vần-đề như thế, là để ta nghiêm-chỉnh xét và xem những gì mình sẽ ăn nói và hành-động. Để rồi, ta sẽ có thái độ đúng đắn, hầu đem các giá-trị của những hành-xử ta từng có và vẫn có trong đời mình cả vào lúc mình ở nhà hay đang lao-động tại sở làm cũng như ở chốn vui chơi, giải-trí cho khuây khoả và cũng để xét lại xem cung-cách mình đối xử với nhau lâu nay ra thế nào.
Chính những điều như thế, mới chứng-tỏ ý-nghĩa của việc ta bày-tỏ bằng hành-động. Và bằng vào những cử-chỉ như thế, người khác mới đánh giá là: ta có thực sự là người chân phương, tử tế, ý-nhị về niềm tin hay không? Hoặc, ta cũng chỉ là kẻ dối-gian/bội phản như bất cứ người nào khác; hoặc, ta lại cũng không biết cách ăn vận, xử thế và nói năng cho hiền-từ, tử tế, thế thôi.
            Tựa như tín-hữu thời tiên-khởi ngày nay ta cũng ăn vận mầu trắng rất “trinh trong” mỗi khi ta nhận ơn thanh-tẩy từ Đạo Chúa. Trinh trong mầu tiệc cưới rất trắng tinh, là sắc mầu thích-hợp với nghi-tiết thanh tẩy của Giáo-hội.
Cũng tựa như người thời trước, vào những tháng ngày ta nhận-lĩnh ơn thanh-tẩy, ngày nay không có nghi thức đặt tên, nêu tuổi như trước nữa. Và, cũng chẳng phải là nghi tiết giao tế xã hội, để mà ăn uống.
Hôm nay đây, chỉ là ngày thường trong tuần tựa hồ như khi ta nhận thiệp hồng từ bà con/bạn bè vẫn muốn mời chào ta tham-dự tiệc cưới, mỗi thế thôi. Nhận thiệp mời ngày thanh-tẩy hay lễ cưới, tức là ta được nhắn hãy tham-dự lễ-hội vui-tươi của cuộc sống, có Chúa cùng tham-dự.
Vào các tiệc-tùng buổi ấy, mọi người đều xử-sự theo đúng cung-cách họ tuyên-tín. Ở nơi đó, kẻ dối-gian/bội phản đều đã cao bay xa chạy, cả trăm dặm. Họ đâu còn bận tâm gì nữa mà ngoái cổ quay đầu lại, để làm chi.
            Tiệc cưới cuộc sống hôm nay, còn là tiệc ngàn đời có Chúa/có ta, có cả cộng-đoàn thân-thương, lành thánh rất Nước Trời là như thế.   
            Trong tinh-thần nghiệm-sinh tiệc ngàn đời luôn có Chúa, tưởng cũng nên ngâm nga lời thơ ở đời vẫn còn hát, rằng:

            “Em tự ngàn xưa chuyển buớc về,
            Thuyền trao sông mắt dẫn trăng đi.
Những giòng chữ lạ buồn không nói,
Nét lửa bay dài, giấc ngủ mê.
(Đinh Hùng – Gặp Em Huyền Diệu)

Gặp em hay gặp Chúa, vẫn cứ thất “nét lửa bay dài, giấc ngủ mê”. Ngủ có mê, cũng đừng “chuyển bước về” ngàn xưa ấy. Để rồi, em với tôi , ta cùng về chốn Huyền Diệu của tình yêu-thương Chúa vẫn gửi đến mỗi người trong ta. Ngài gửi, để ta vui sống mãi chốn Nước Trời hiền-hoà, rất hôm nay.

Lm Richard Leonard, sj
Mai Tá lược dịch.