Friday, 19 July 2019

“Nhìn nụ cười, nhìn ánh mắt mênh mang”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 16 thường niên năm C 21/7/2019

Lc 10: 38-42
“Nhìn nụ cười, nhìn ánh mắt mênh mang”
“mà yêu thương, thêm muôn ngàn tha thiết.”
(dẫn từ thơ Hoài Châu)

Cũng bằng ánh mắt yêu thương nhìn Thày thêm tha thiết, hai chị em Maria và Martha lại có động thái rất khác biệt. Như trình thuật hôm nay, rày đã kể.

Trình thuật hôm nay, thánh Luca kể về động-thái rất khác biệt, giữa chị em Maria và Martha. Khác biệt ở điểm: người thì chú trọng đến chiêm niệm, còn người kia lại chỉ sống Lời Chúa cách năng động, chứ không thích cung cách sống nào khác, trong đời. Trình thuật, nay ám chỉ động thái của ai đó chỉ biết lo toan, đắn đo những việc không quan trọng, để rồi vô tình xa rời điều cần thiết: sống yêu thương. Sống tin tưởng.

Sống tin-yêu, không là kéo dài ngày cuối tuần để chứng tỏ: Chúa yêu ta biết chừng nào. Sống năng động, là chuyện cần thiết, cũng giúp ích như chuyện nguyện cầu sớm tối. Hệt như, thánh Tôma Akinô từng nói: yêu Chúa, không cần đạt mức thương yêu thật “dữ dội”. Nhưng nguyện cầu, cũng nên hạn định giờ giấc mới có lợi. Bởi, việc cần thiết nguyện cầu, còn tùy người/tùy hoàn cảnh khác nhau. Nên, chuyện tu thân/tích đức đã trở thành vấn đề với người thời đại, hôm nay. Hôm nay, hay khi trước, ai cũng công nhận rằng cả Martha lẫn Maria, đều trở thành đấng thánh cũng rất lành.

Ngày nay, nhiều người vẫn cứ tưởng: ai sống kiểu Martha đều thấy mình không mấy thánh-thiện là vì mình không siêng-năng cầu nguyện đúng cách. Cũng thế, có người sống giống như Maria lại nghĩ: mình có cảm giác như thể lâu nay không được đề cao cho đủ, bằng nhận xét trên. Vậy nên, ta cũng xin lỗi Maria, vì tư tưởng ở bên dưới, thuộc những người theo phía Martha, khá năng động.

Sâu sắc hơn tu-đức, như nhận-thức “nội tại”, lại cứ hỏi: cuộc sống con người rày ra sao? Sống năng động hay nội tại, có trực giác/giản đơn đâu cần chuyện ‘siêu nhiên’/‘tu-đức’ mà chỉ cần kiên nhẫn nhờ ánh sáng soi dọi nhận thức, rất đúng. Điều này chắc chắn sẽ hiện hữu như quan niệm nằm sâu nơi tâm tư con người. Sống như thế, ngày nay mọi người gọi đó là “sống trí-tuệ”.

Sống “trí-tuệ”, là cuộc sống đưa con người vào phục vụ niềm tin, hầu cho phép niềm-tin tự hiểu mình chứ không sống như các kẻ-tin vẫn thực hiện theo thói tục/luật lệ, mà chỉ làm vào những lúc mình sinh hoạt đạo đức, thôi. Và, đây là thứ “trí-tuệ” chẳng bao giờ bị rút khỏi tâm trí của kẻ tin.

Phần đông mọi người được mời gọi tiếp tục tạo sự tốt đẹp trong cuộc sống; và tiếp tục chiếu rọi cảm giác vẫn có về mình và về thế giới mình đang sống để rồi biết rằng mình “sống trí-tuệ” là sống có niềm tin sâu sắc. Bằng vào cách này, những người sống như thế mới hiểu thế nào là niềm tin-yêu, mình xác tín. Những người sống như thế, sẽ không được mời gọi chấm dứt suy tư, mà gọi mời sống sao cho “sốt sắng” hơn nữa. Suy như thế, người người sẽ hiểu, là ta được cứu rỗi chỉ vì tin, mà thôi. Điều này thật cũng đúng. Nhưng, ta được gọi mời không chỉ sống cho niềm tin, nhưng còn “sống trí tuệ” nữa. Có lần, Lm Herbert McCabe, o.p. được hỏi là: “Có chăng một tương-quan sống niềm tin và sống lý trí không?” thì được ông trả lời: “Tôi có đức tin nhưng đức tin của tôi vẫn đồng-hành với lý-trí.”

Nhiều vị, lại cứ quan niệm: ta được mời gọi sống đặc biệt rất tu đức, chỉ mỗi thế. Và từ đó, mọi người gọi đó là “ơn gọi đặc biệt”. Thật ra, không phải ai cũng nhận được “ơn gọi” ấy. Thật cũng không phải, nếu ta bó buộc tín-hữu sống như thế. Cũng có người lại có khuynh-hướng bắt chước sống giống như bậc hiển thánh khi xưa từng như thế. Và, không ai lại nghĩ ta sẽ trở thành người cương-nghị quyết sống đạo như vậy. Trái lại, hãy trở nên chính mình, sống đích thực như mình được sinh. Còn chuyện sùng bái, luyến ái lối sống của các thánh này/khác, không là chuyện bó buộc thành viên nhóm hội/đoàn thể nào đó phải đặt dưới sự bảo trợ của đấng thánh quan thầy đó.

Ngày nay, ta thật không rõ có khác biệt chăng giữa động-thái “chiêm niệm” kiểu Maria và lối sống “năng động” kiểu Martha, tức: có đáp-ứng tình-huống người thời đại mình nữa hay không? Để trả lời, có thể nói: phần đông tín-hữu Đạo mình, từng sống “sốt sắng” theo cách này/khác, vẫn không thay đổi lối sống, rất cũ xưa của mình.

Giữ vững niềm tin, người ngày nay sống trong thể-chế Giáo hội không còn hấp-dẫn như xưa, tức: người ngày nay vẫn sống sốt sắng/chiêm niệm, theo cách nào đó, dù Giáo hội có để luột mất không ít uy tín/hấp-lực của mình. Hoặc, không còn sức bật để trở thành nhóm người ưu-tú như khi trước. Uy tín với uy lực của Hội thánh, nay tàn-tạ, không còn ảnh hưởng lên dư-luận quần-chúng, dù vẫn lên tiếng trong nhiều trường hợp. Ngày nay, lại đã thấy nhiều xung đột xảy đến giữa dân con tốt lành, trong đạo nữa.   

Dù là thế, nhiều người có rời bỏ hay vẫn cứ ở lại với Giáo hội, nay cũng tìm được đường-lối khác để còn tin. Tin, như thể “rễ cái” giá trị nằm im bên dưới tầng lớp đổ nát, gãy vụn; và họ vẫn sống có niềm tin trực-tiếp hơn bao giờ hết. Giả như những người này vẫn còn tin như thế, thì Chúa vẫn đến với họ mãi đến bây giờ. Giữa họ và Chúa vẫn có quan-hệ mật thiết, cũng rất gần. Và, ta gọi đó là lối sống sốt sắng, theo cách khác.

Lạ thay, mọi việc do các vị này làm cho mọi người đông đảo là thế, mà sao ai cũng sống êm ả, kể cũng lạ. Sống êm ả, là vì mọi người nay tin vào trực-giác hỗ-tương, có khả-năng duy trì niềm tin cho cả người khác, nữa. Niềm tin, cắm rễ sâu nơi Đấng thánh, vẫn là trọng tâm cuộc sống của các vị, hơn mọi thứ. Cắm rễ niềm tin vào Chúa, là tâm trạng của Martha và cả Maria nữa.

Các thánh sống năng động hơn bao giờ nhưng lại cũng chiêm niệm, hơn lúc nào hết. Có thể, đây là lý do khiến các vị cứ gần gũi với phấn đấu và khổ đau của dân thường ở đời, tức: những người luôn kiếm tìm niềm tin, không ngưng nghỉ. Những người, không cần phải ra ngoài mới đến được với người khác; bởi, người khác đã đi bước trước, đến với họ tự bao giờ. Sống năng động và chiêm niệm, đâu cần ganh tương/tị nạnh về văn hoá, danh dự. Và đôi lúc, cũng chẳng cần thiện tâm/thiện ý xuất tự giáo hội địa phương, hoặc thể chế. Bởi, các vị vẫn đồng hành với người nghèo khổ sống giữa quá khứ và vị lai. Bởi, các vị nay đem đến cho họ niềm hy vọng, rất phấn chấn.

Xem ra, nay đang có thứ gì đó xảy đến, cũng rất nhiều. Trong số các đấng bậc lành-thánh, như: thày dòng, linh mục, nữ tu và giáo dân, chừng như tất cả đều tìm ra ý nghĩa mới về Đức Chúa. Ý nghĩa này, qua lối sống chiêm niệm, vẫn đáp ứng lời mời của Chúa cách hân hoan, lạ kỳ nên đã biết cảm tạ ngay lập tức. Kết cục, muốn được thế, ta chỉ cần biết mở lòng ứng-đáp điều lạ lùng Chúa gửi, như quà tặng. Để được thế, người người đà rời bỏ động thái muốn sở đắc mọi sự, hầu tỏ bày tình thương-yêu đặc-biệt. Rời bỏ, không còn theo lệnh truyền này khác, trừ khi gặp hoàn cảnh và con người đối chất với mình một cách bất ngờ, thôi. Phải chăng chuyện đó là do có lập trường sống giống Martha? Hoặc Maria? Hoặc cả hai?

Có vị chủ trương mọi sự nên tập trung vào Chúa. Nhiều vị khác, chủ trương: ta chỉ nên để ý những gì xảy đến với mình, thôi. Nói tóm lại, tất cả đều dồn vào sự kiện: Chúa đang ở trong mọi người, và mọi người ở trong Chúa. Nhiều vị quá chăm chú vào chủ-thuyết cá-nhân. Có vị khác lại cứ nghĩ: chỉ có bạn bè về linh hồn là người tốt, đáng cho ta quan hệ. Cuối cùng, tất cả dẫn về kết cuộc: tự kỷ. Tự kỷ, là chẳng lý gì đến người khác. Và cứ nghĩ: người khác chẳng bao giờ làm lợi cho tôi, nên tôi đâu cần làm lợi cho người khác!

Có vị lại đã từ bỏ chốn ồn ào, nhiệt náo của đời mình, để sống khắc kỷ chứ không sống đơn giản như khi trước. Có vị, vẫn nghĩ đến người khác, giúp người khác sống tử tế, thanh tao như mọi người, với mọi người. Cuối cùng ra, muốn sống sao thì sống miễn là ta biết tri ân quà tặng Chúa ban, để rồi chuyển trao quà ấy cho những người có nhu cầu hơn mình, ngõ hầu họ sẽ sống phấn chấn với món quà, mình san sẻ. Cuối cùng thì, sống theo tinh thần sẻ san hết mọi sự với cộng đoàn, không còn vấn đề nào khác ngoài việc cứ sống “quanh quẩn” bên nhau, trợ giúp nhau. Sống như thế, là sống trong hy vọng mọi việc sẽ tiến về phía trước, rất hứa hẹn.                                                        

Sống như thế, sẽ không còn thấy điều khác biệt giữa lập trường/quan niệm của Martha và Maria, nữa. Bởi, Chúa đã phục sinh/trỗi dậy để Ngài về với vũ trụ, vạn vật. Sống như thế, sẽ không còn khó khăn để ta quỳ trước chân Ngài mà phân trần về mọi khác biệt. Bởi, mọi người đều hành xử, rất tin-yêu. Sống tin-yêu, là không còn sống theo kiểu chính-trị-gia chuyên kết bè/kết đảng, để chia rẽ. Sống có tin và có yêu, là sống đúng ý định Chúa muốn ta sống rất vui tươi, và hy vọng vào mai ngày, nhiều khích lệ.

Trong quyết tâm sống như thế, ta lại sẽ ngâm lên lời ca vui, rằng:   

“Nhìn nụ cười, nhìn ánh mắt mênh mang”
“mà yêu thương thêm muôn ngàn tha thiết.”  
(Hoài Châu – Nguyện Cầu)

Nguyện cầu, sao cho mọi người sẽ “yêu thương thêm muôn ngàn tha thiết” để rồi mình sẽ sống nhanh, sống mạnh, sống vững chãi với người đời, trong đời người.  

Lm Kevin O’Shea, CSsR – Mai Tá lược dịch  

Monday, 8 July 2019

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 15 thường niên năm C 14/7/2019

Lc 10: 25-37 Một hôm, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?" Ông ấy thưa: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình." Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống."

Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?" Đức Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.33 Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác." Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? " Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy." Đức Giê-su bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,”
“đốt thương yêu, than nóng hực ân tình.”
(dẫn từ thơ Du Tử Lê)

Ân tình hực nóng, đã trở thành lửa ân tình đà thấy rõ nơi các nhân vật ở trình thuật, hôm nay. Trình thuật hôm nay, thánh Luca kể về ân-tình lành thánh của người ngoài đã đối-xử với dân con trong Đạo, vẫn chưa quên. Đọc trình thuật, người đọc thấy rõ cung cách người ngoài Đạo tận tình chăm sóc kẻ bị nạn, bất kể họ thuộc nhóm/bè nào, vẫn có nhu-cầu cơ bản để sống còn. 

Nhu cầu kẻ bị nạn, vẫn thường lệ-thuộc vào sự chăm sóc của người khác cả về: thời gian, năng lượng và tài-nguyên của người giùm giúp. Sự chăm sóc, xuất từ người ngoài Đạo dồi dào, vượt trội, theo cách riêng tây, chứng tỏ quan hệ tốt giữa kẻ cho và người nhận, thật đặc trưng. Và “người cho” hôm nay, không cân đai/áo mão nên chẳng ai rõ lý lịch của người ấy đến thế nào.

Chỉ biết: nhu-cầu căn bản để sống còn, là điều mà đa số nữ-phụ ở đời cần nhiều hơn nam giới. Bởi, nữ-giới ở đời phải sinh con đẻ cái, rồi tạo thức ăn dinh-dưỡng cho trẻ bé, cả đến nơi ở, quần áo, tình cảm lẫn mối quan hệ xã giao, vẫn là nhu cầu bức thiết để giữ mọi người ở lại với mình. Bậc nữ-lưu trong xã-hội, luôn có nhu-cầu của cuộc sống hằng ngày; thế nên, mẫu-mã quan-hệ giữa người cho và người nhận là đặc-thù của hai người, ở đây là: mẹ-con. 

Tân Ước, nhấn mạnh nhiều về lòng mến trải dàn nơi mọi người, trong ngoài nhà Đạo. Tân Ước còn tỏ cho thấy tính phổ-cập nơi lửa ngọn thương yêu/chăm sóc giữa dân con đồ đệ của Chúa, nữa. Tuy là thế, tính phổ-cập của lòng mến diễn tả vào tình huống rất căng, luôn ganh đua/tị nạnh với “tương-quan chăm sóc” như vừa nói. Tương-quan chăm sóc, cũng mang tính phổ-cập cả bên ngoài vũ trụ, chứ không chỉ là cá nhân riêng lẻ, của một ai. Tính phổ-cập kiến-tạo sự đồng đều cho những ai cần chăm sóc, bất kể họ có khác biệt về tôn giáo, sắc tộc hoặc văn hoá, như trình thuật viện dẫn. Tính-chất ấy, đòi mọi người phải biết quan tâm đến kẻ bị nạn, bất kể kẻ ấy, người nọ có đòi hỏi, kêu cầu gì nơi người “qua đường” hay không. 

Tường trình về “lòng mến” có sự chăm sóc trong vũ trụ lại cũng đáp ứng tính hấp-dẫn đặc biệt của một số người gọi đó là ích-kỷ hoặc ham-mê quá độ, thấy khá nhiều. “Lòng mến” vẫn vượt trội quan-hệ tư riêng, cục bộ; từ đó đi đến kết quả, là: nếu ta để tâm đến nhu cầu vật chất tư riêng, theo cách tập trung, ắt hẳn ta sẽ tạo sức ép linh-thiêng, nên tồi tệ. 

Đôi lúc, cũng nên tạo ấn tượng để người người hiểu rằng tương-quan chăm sóc đặc biệt, là kết quả do ta chọn. Nhờ đó, ta trở thành người tốt lành, mang chất Kitô nhiều hơn, khi có khả năng vinh-thăng mọi việc. Và, trở thành “người có lòng với vũ trụ” nhiều hơn, mà không cần ứng đáp với người được chăm-sóc, nhất là khi đối xử với họ một cách ngang bằng, đồng đều.

Thật cũng dễ, để nói rằng: động thái yêu thương mang tính-chất toàn cầu, trong khi con người lại cứ hành-xử theo cách riêng tư, cục bộ. Khi đã yêu thương rồi, ta lại sẽ đạt trạng huống đến với nhiều người có nhu cầu nhiều hơn ta. Trong khi đó, ta lại không thể làm cả hai việc cùng một lúc và không thể chăm sóc nhiều người cho đồng đều, được. Chính vì thế, văn hoá của ta xem ra cũng khác với động thái phòng-ngừa tệ hại xảy đến với mọi người và động thái đầu tư năng lượng nơi người khác, nữa. 

Thông thường, ta vẫn muốn phòng ngừa mọi tệ hại đem đến cho người khác. Nhưng, qua tư cách cá-thể, ta không tài nào làm được việc ấy, nên mới chuyển qua hệ thống rộng lớn hơn, dù hệ thống ấy không tránh được tình huống thiếu phẩm chất. Thành ra, ta có tự do đeo đuổi các chọn lựa tư riêng –dù chọn lựa ấy mang tính chuyên quyền, độc đoán- mỗi khi ta đầu tư năng lượng của riêng mình nơi những người do ta chọn lựa. Nói cách khác, là nói như người xưa: “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Bởi thế nên, những người được ta thương yêu /săn sóc sẽ trở thành bạn bè người thân, cũng rất gần. Và, thông thường thì: những người do ta chọn để giúp đỡ, lại không liên can gì đến ta, mà chỉ như người lạ, và có khi còn trở thành kẻ thù vì hãi sợ ta, nữa. 

Ở đây, còn thấy có giòng lịch sử về tình bạn mà, với xã hội, tình này đà đổi thay khá nhiều. Vào thời trước, tình bạn xuất từ những người cùng quá trình lý lịch hoặc ở chòm xóm, chung một sở làm. Những người như thế, thường giúp đỡ nhau và trở thành bạn bè không theo nghĩa lựa chọn riêng tư do sự kiện cùng sinh ra từ một nhóm, chứ không phải từ người ngoài. 

Trong sống đời bình thường ở xã hội, ta luôn có nhu cầu vật chất, ngang qua thương-trường nội bộ. Và, nhờ chính sách an toàn của quốc gia mình sinh sống, ta vẫn được bảo vệ, rất an toàn. Thế giới ta sống hôm nay, có hằng hà sa số những loại chăm sóc đặc trưng và có cả những người không được thế, nên mới tìm đến các chăm sóc thấp hèn từ cơ sở tìm việc làm. Những người này thường bị bóc lột nhiều thứ, như: lương quá thấp hoặc điều kiện làm việc không tương xứng với khả năng, cơ chế xã hội không được công nhận. Phần đông những người như thế chỉ là các “chị giúp” hoặc “người ở”, cần chút thu nhập để còn sống.

Người Samaritanô hiền từ, chẳng bao giờ đặt vấn đề lý thuyết như thế. Ông chỉ dừng chân đứng lại để tương-tác với những người đang ở trước mặt ông, lại có nhu-cầu rất bức-thiết. Đôi khi, mọi người đều thấy khó trở thành người Samaritanô hiền-từ rất toàn thời. Càng khó hơn, khi phải tra tay chăm sóc giúp đỡ khá nhiều cùng một lúc. Vì thế, cũng có nhiều vấn đề khác liên quan đến quan-hệ giữa kẻ chăm sóc và người nhận. 

Theo định nghĩa, vẫn thấy có tương-quan không đồng đều giữa hai loại người này. Với người được săn sóc, thì vấn đề là sự tin tưởng. Còn, với người kia, đó lại là tương-quan hiểu biết và khả năng làm được gì cho người. Điều cần làm, là: cốt sao xứng-hợp với tự do của người nhận. Tự do đây, không mang ý nghĩa của “tự túc, tự lực”, tức: được coi như lệ thuộc nhau, trong kết đoàn. Tương-quan đây, không có nghĩa như tương quan giữa quyền bính và uy-lực. Trong đó, có chức năng mới của những lo toan dựa trên quan-hệ bình thường và loại hình mới về tình bạn, giữa hai người.

Xã hội hiện nay, người người trở nên thận-trọng lo-lắng chứ không xả thân lo toan cho người khác. Bởi ngày nay, người người dựng xây nhiều dịch-vụ “lo” cho sức khoẻ của mình, nên đã phòng ngừa nhiều thứ. Ngày nay, người ta sống chường mặt với hiểm nguy đủ loại, nên chú trọng nhiều đến những tiêu cực hơn sống tích-cực. Có làm gì, thì rồi ra ta cũng đều sẽ chết tại bệnh viện; và nhiều người rồi cũng chết sau khi được săn sóc đủ điều nhằm làm nhẹ bớt nỗi đau triền miên. Nhưng họ quên rằng: trong sống đời thực tế, mình cũng từng tự chăm sóc cho mình, y như thế. Con người ngày nay lại quá thận trọng, phòng ngừa và âu lo cho nỗi đau đến phải sống cuộc sống đang từ từ xảy đến. 

Vậy nên, vấn đề hỏi rằng: ta sống để làm gì? Con người được dựng ra là để sống cho tình bằng hữu; và, cộng đồng nhân loại được dựng xây là để tỏ lòng mến, hiếu khách, đỡ đần nhau, mới đúng.

Thế giới ngày nay, những người bị coi là tật nguyền/khiếm khuyết vẫn có ơn “gọi” đặc biệt. Ơn gọi của người khuyết tật quyết đem Tin Mừng đến với những người được coi là độc-lập, khoẻ mạnh và thành đạt. Người khuyết tật, luôn giúp người lành mạnh để người lành và thấy được rằng: là người, tức mình sẽ bị hạn chế, dễ gãy và luôn có nhu cầu bức thiết. Thế nên, ta chỉ là ta, khi ta có quan hệ tương-tác với những người đang cần ta đến giúp đỡ. Giúp, mà không coi đó như dấu hiệu của yếu kém, lận đận mà vì nhân loại được tạo dựng vẫn cần đến “cứu rỗi”. Ai ai cũng dễ bị gãy đổ, mỗi người một cách. Ta được gọi, là để nhận ra điều đó. Ta được gọi, còn để lướt thắng nó mà mừng sự kiện: tất cả đều cùng một Thân Mình Đức Kitô, mà thôi.

Người bị gãy đổ, sẽ càng thấy rõ mình có ơn “gọi” đặc biệt hơn. Có nhiều loại gãy đổ được thấy rõ ràng, đặc trưng hơn. Như trường hợp của người khiếm-thị, chẳng hạn, nội sự kiện họ bị mù hoặc sắp thành mù-loà lại cũng giống như máy hút bụi to lớn đang đi vào cuộc sống sẽ hút tất cả mọi sự đi nơi khác. 

Từ đó, sẽ tạo khủng hoảng về lý lịch. Bởi, lý lịch con người đều đặt căn bản trên việc gom gộp mọi thứ, chứ không tẩy trừ tất cả, ra hư không. Niềm tin cũng thế, phải mang tính đại-kết theo nghĩa chữ và phải bao gộp mọi người, chứ không chỉ những người cùng bộ tộc mình thôi, rồi đẩy lùi những người khác mình. Ta phải vượt trội tính khác biệt, để rồi sẽ liên kết mọi người lại với nhau. Điều này, nên hiểu cho đúng cách hơn, nhất thứ là khi ta đối xử với người có khuyết tật về tâm trí; và cả những người có khó khăn về ngôn ngữ, cũng thế.

Trở lại vấn đề: nếu không thể yêu thương và chăm sóc hết mọi người, thì ta làm cho ai đây? Tác giả người Pháp nọ có đề cập đến những người mà ông gọi là “người nghèo được chọn lựa”. Cuối cùng, rồi ra ta cũng đi đến đoạn kết cục là: chăm lo cho người nghèo và người có nhu cầu do ta chọn. Họ là những người do ta đã chọn; nên, mới tỏ bày tình bằng-hữu với họ và mới chọn cùng sống với họ và giống như họ trong Thân mình của Chúa. Có như thế, ta mới nhận được quà tặng trở thành Kitô-khác đối với người nghèo khó. Giả như ta có quyền và có thể chấm dứt hệ thống giai cấp, đặc quyền tồn đọng nơi thế giới phàm trần, thì chắc hẳn ta cũng sẽ đổi mới được nhiều thứ, nhiều sự.

Kitô-hữu thời tiên khởi, cũng đã chăm sóc cho người nghèo hèn, côi cút, các bà goá và những người bị cầm cố, thấp hèn. Làm thế, không có nghĩa là các ngài ném tiền vào các chương trình này/khác để giúp người nghèo. Nhưng thực sự, các ngài đã biết lo toan cho người nghèo, trên thực tế. Đây là yếu tố khiến người La Mã dựa vào đó mà phân định ai là Kitô-hữu, ai không, bằng vào sự thể là: những người như thế biết chăm lo cho người khác nhiều hơn thế. Chí ít, là người nghèo đói, có nhu cầu hơn chính mình.   

            Trong cảm nghiệm sự cần thiết lo toan giúp đỡ mọi người, ta cũng nên ngâm lại lời thơ trên, rằng:

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,”
“đốt thương yêu, than nóng hực ân tình.” (Du Tử Lê – Hiến Chương Yêu)
            Chăm lo cho mọi người, nơi Đạo Chúa, lại trở thành “Hiến Chương” yêu thương vẫn sáng tỏ trong đời người. Một đời, có Đức Chúa làm mẫu mực, để ta theo.  

                          Lm Kevin O’Shea, CSsR – Mai Tá lược dịch  

Friday, 5 July 2019

“Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 14 thường niên năm C 01/7/2019

Lc 10 : 1-12, 17-20

Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Ngài bảo các ông:

“Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông." Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần." Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó."

“Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp,”
“là áo người trắng cả giấc ngủ mê.”
(dẫn từ thơ Đỗ Trung Quân)

Giấc ngủ mê, đưa nhà thơ ra ngoài cửa lớp. Giấc mộng dài, dẫn người nhà Đạo về với lời Chúa dạy để nhớ mà đi vào hiện thực.

Trình thuật, nay thánh Luca lại cũng kể về Lời Chúa dạy con dân Ngài hãy ra đi rao truyền Nước Trời đến mọi thôn làng gần xa, trên thế giới. Nhưng, thế giới nay đổi thay cũng khá nhiều trong lịch sử. Thế nên, công cuộc mục vụ của thánh Hội từ đó cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

Lịch sử Đạo, khởi đầu nơi thế giới, với đế quốc La Mã khá mạnh. Mạnh đến độ, người trong đó đều tham gia góp phần vào nghi thức thánh thiêng của họ. Ai không theo qui định họ đề ra, đều chịu xử phạt khiến phải tử đạo. Và từ đó, niềm tin đi Đạo lại nhanh chóng tràn vào đế quốc La Mã cả ở trời Tây lẫn phía Đông, khắp mọi chốn.

Được như thế, một phần là nhờ vào phương tiện cầu đường do đế quốc lập. Sau thời bách hại, dân con Đạo Chúa lại cũng nhờ có Constantine thiết lập khung trời mới với nhiều thứ, nên việc rao truyền niềm tin xuyên suốt châu Âu đã đạt nhịp điệu đáng kể. Chính vì thế, chức sắc trong Đạo lại trở thành giống như giới chức của Đế quốc, tức: cũng thi hành quyền-lực hệt như họ. Và từ đó, việc rao truyền Đạo Chúa với thế giới, đã xuất hiện tự bên trong.

Thời đầu, dân con/quần thần ở đế quốc tiếp tục hành đạo theo kiểu cũ, dù ít người theo, nhưng vẫn là thứ tôn giáo không niềm tin chẳng có tầm nhìn hoặc thị kiến linh đạo. Tôn giáo của đế quốc cũng nhanh chóng mai một. Và, đám “rợ” các nơi mới có dịp xâm nhập toàn cõi châu này. Dù ra thế, Hội thánh vẫn đủ sức tồn tại và trở thành chiếc cầu nối giữa quá khứ và tương lai. Hội thánh vẫn giúp dân con mọi người tạo thành khối đoàn-kết để sau đó, thành một Âu châu đầy quyền-thế. Và Hội thánh cứ thế tồn tại đến ngàn năm, khả dĩ bảo tồn được nền văn hoá quá khứ và trao lại cho chúng dân điều tốt đẹp nhất trong đời.
Tuy nhiên, Hội thánh rồi cũng suy sụp, để sau này, phải nhường đất cho một Âu Châu đang trong vị-thế phát triển mạnh mẽ. Ngay đầu thế kỷ 16, đã thấy chủ-thuyết “Thệ Phản” nhanh chóng chiếm-lĩnh nhiều thị trấn ở châu này. Trong khi đó, thay vì đối thoại, Công đồng Triđentinô lại chọn thái-độ kình chống họ. Nên, mới xảy đến “chiến tranh tôn giáo”; và từ đó, dẫn đến khủng hoảng nơi Kitô-giáo, cho cả nhóm Thệ Phản lẫn Công Giáo. Và, các nhà trí-thức lại cũng xác tín rằng: tôn giáo là chất kích-tác tạo cuộc chiến đến độ không sao tái tạo được nền hoà bình rất công chính. Và sự việc cứ thế rời xa cuộc sống của công chúng, để rồi lấn dần vào địa hạt cá nhân, riêng lẻ.

Và, đã đến lúc toàn cõi châu Âu nay trên đà đi xuống. Sau đó, lại thấy xuất hiện thời hiện-đại tân-kỳ bằng những phát minh mới. Giấc mơ mới. Cách mạng mới. Nhất nhất mọi sự đều nhân danh tự do, giàu có quyết đem đến cho cuộc sống của mọi người. Và, cũng từ đó, lại thấy xuất hiện một số quốc gia khá “hiện đại” khiến Hội thánh phẫn uất, bất-ưng và chối bỏ khiến đem lại kết quả thảm hại cho cả Hội thánh lẫn thế trần. Ngay khi đó, trần-thế bên ngoài đã tạo được kiến thức mới, kỹ thuật mới và cả lối sống rất mới nữa. 

Về thần học, Hội thánh khi ấy cũng có thái-độ thủ thế, tức: chỉ lặp lại và bình-luận các văn-bản cổ xưa, rồi phản-bác những gì xảy đến với thế giới “hiện đại”. Hội thánh lúc ấy chỉ muốn dân con mình trở thành đồng-dạng cả trong phụng vụ, ngôn từ thần học lẫn công cuộc đào tạo linh mục/tu sĩ với tiêu chuẩn cao nhất. Tựa hồ thực-dân-ông chễm chệ một cõi, Hội thánh những muốn chuyển-tải duy một truyền-thống của mình cho toàn thể địa-cầu, chẳng lý gì đến văn-hoá địa phương, qua mặt cả tầng-lớp giáo-dân của mình, vẫn cứ “cầm cân nảy mực”, chỉ mình “tôi”.   
             
Kịp đến khi xảy ra cách mạng Pháp, Hội thánh đã để mất giai-cấp ở trên cao. Mất cả giai cấp lao-động khi xuất hiện cuộc cách-mạng kỹ-nghệ nữa. Và, khi mọi người tìm cách đổ dồn về thành phố để sinh nhai, Hội thánh đã bị bỏ lại đằng sau với đám hầu cận, dân dã cấp nông gia. Trên thực tế, ở thế kỷ 18 và 19, phần lớn đám dân-cư còn tin tưởng vào truyền-thống Công-giáo rất dễ bảo, đã trở thành đám người quê-mùa, dại dột. Trong khi đó, loại hình xã-hội mới gọi là “thế-hệ hiện-đại” lại đã trồi lên mặt thế giới mới.

Từ đó, nền-tảng chính-trị, xã-hội và trí-thức từng phục vụ nhu-cầu cơ bản của con người khiến Hội thánh có được hoạt-động thiêng-liêng sủng-ái cả ngàn năm, nay không còn nữa. Tầm nhìn nhân-loại và thế-giới từng phục vụ niềm tin thời đầu đang dần dà biến dạng. Vào thế kỷ thứ 20, Hội thánh đã ngưng-trệ nhiều và dần dà lùi vào dĩ vãng. Muốn thực hiện công cuộc truyền giáo vãi gieo Tin Mừng cho mọi người, Hội thánh buộc phải tái-tạo kho bãi, mặt bằng cho riêng mình. Trước Công Đồng Vaticăng 2, Hội thánh với tư cách là thể-chế, không học-hỏi được gì nhiều để có thể sống không cần đến quyền-thế đến nghìn năm.

Thời Công Đồng Vatican 2, Hội thánh đã khám-phá ra sự-thể là: mình có thể thực-thi sứ-vụ Chúa giao phó trong khiêm hạ và khó nghèo, tốt hơn cả thời vinh quang, quyền thế. Và khám phá ra rằng: giáo-dân cũng có trọng trách rao truyền Tin Mừng của Chúa, chứ không chỉ các chức-sắc/phẩm trật nơi Giáo triều, thôi. Thông thường, giáo dân thực-hiện công-cuộc truyền giáo qua sống thực niềm tin tại nơi mình trú-ngụ. Cơ-chế Hội thánh có mặt ở đó, là để hỗ-trợ cho họ, chứ không chỉ mỗi Hội thánh mình mới có quyền làm thế.

Ít năm sau Công Đồng, chừng như mọi sự thành gãy nát, vỡ đổ. Trong nội bộ Hội thánh, lại xảy ra một thời rất lạ. Lúc ấy, toàn bộ công cuộc tiến-hoá đều bị nhóm hội/cộng đoàn quan trọng trong Hội thánh lẫn giáo triều cật vấn. Ở cuộc sống bên ngoài, Hội thánh lại trở thành một lực lượng sống ngoài rìa xã-hội. Tự bản thân mình, Hội thánh không thể kể cho con dân nhà Đạo biết phải làm gì để sống tu đức và cũng không còn khả năng hướng-dẫn thế giới bên ngoài con đường mình tiến bước. 

Chức sắc Hội thánh từng ban hành nhiều tài-liệu hay/đẹp nhưng chẳng ai đọc. Sứ-giả Hội thánh được tôn kính, nhưng chẳng ai biết gì về sứ điệp. Có vị còn cho rằng: Công Đồng Vatican 2 phạm phải sai lầm, nên mới có phong trào tái-tục tinh thần của Công Đồng để mọi người sống cho sinh động, phải phép. Từ đó, các vị quyết canh-tân cả những gì đã được đổi mới, nhất thứ về phụng vụ.

Hội thánh, nay không nhận thức được những gì đã và đang xảy đến với xã hội. Và, Hội thánh cũng không thấy được cơn khủng-hoảng mà xã hội phương Tây đang gặp phải. Đồng thời, Hội thánh tiếp tục tìm cách có mặt với cả hai loại-hình thế-giới nay không còn hiện hữu, tức: xã hội kinh-điển cũng như hiện-đại đều đã biến dạng. Đây là cách mạng văn hoá vĩ-đại đã nổ-bùng chỉ hai, ba năm sau thời Công Đồng. Nổ bùng đến độ nhiều vị còn không biết là đã có Công Đồng Vaticăng 2 nữa. 

Chuyện này gây ảnh hưỏng lên mọi tôn giáo và xã-hội. Ngày nay, ta gọi thời kỳ này là thời hậu-hiện-đại, hoặc tân-hiện-đại. Hiện-đại, đến độ chẳng ai tin vào thứ gì hoặc chẳng ai thích những chuyện đầy ý-nghĩa về cuộc sống; cũng chẳng chấp-nhận bất cứ thể-chế trần gian hay đạo giáo nào, hết. Nói cách khác, chẳng ai tin tưởng vào đường lối thực tiễn để thể hiện công cuộc truyền giáo nữa. Nói tóm lại, thời kỳ này là thời lầm lạc, trầm thống rất đáng tiếc.

Nay, lại thấy xảy ra giai-đoạn mới gọi là hậu-trần-tục, tức: thời kỳ cùng xảy ra với đạo-giáo và thế-trần. Mặt bằng cuộc sống của công chúng nay trở nên rộng lớn hơn cả tư tưởng hiện đại cũng như hậu-hiện-đại. Tuy mang tính phàm trần, nhưng thời đại này lại song hành mở ra một triển-khai hài-hoà đối với niềm tin cũng như tôn giáo. Nói cách khác, nay là thời của chủ-thuyết đa-nguyên khá hoà-hoãn đang song-hành tiến bước với thế trần, nhưng lại sâu sắc đối với đời sống có niềm tin. Tuy nhiên, nay cũng lại thấy có cuộc phục-hồi cảm-kích về tôn giáo với tính chất trần-tục khá nới rộng.

Cuộc sống dân-dã ngoài đời, đã nối kết một cách lạ lùng với tôn giáo. Tôn-giáo không chỉ hiện diện ở bên ngoài để đấu-tranh cho quyền-lợi của những người bị áp-bức, thua thiệt hoặc đối xử bất công, mà thôi. Nay, lại đã thấy một chuyển mình để bảo toàn, cổ vũ nét đặc-trưng căn-bản của mỗi người trong văn hoá, tôn giáo hoặc nhóm hội mình tuỳ thuộc. Đặc-trưng căn bản này, còn sâu sắc hơn bất cứ cuộc sống dân dã, xã hội khả dĩ tạo cho mọi người đến độ, không có nó, mọi người sẽ nghèo nàn, bất lực. Tôn giáo, nay đang ở “trong” vì có thể nói với và nói về hiện trạng này.

Tôn giáo cũng “ở trong”, nhưng không như nghi thức hoặc sự việc sùng kính này khác từ địa hạt nào hết. Tôn giáo “ở trong”, là bởi tôn-giáo có thể đeo mang niềm-tin đích-thực. Và, không có niềm tin này, cuộc sống trần-tục cũng chẳng thể nào sống sốt được nữa. 

Thành thử, như lời Chúa từng căn-dặn: hãy ra đi thực hiện cuộc truyền giáo dễ như khoác áo vào người rồi dấn bước ra đi hướng về thôn-làng cận bên, để cảm-nghiệm tình Chúa thương ta một cách rộng rãi. Làm thế, trong bối cảnh truyền-thống Hội thánh vẫn tìm cách khám phá ra phương-thế để thực thi Lời Chúa dặn. Nói khác đi, đó chính là loan truyền niềm tin vào Đức Kitô; và, đó mới diễn tả niềm tin vào chính mình cho những người mà mình mới quen biết, hoặc mới gặp.     
             
Có vị hỏi: nếu thế thì, đâu là định-luật truyền giáo ngày hôm nay? Câu trả lời, là: vẫn như trước; tức: vẫn “ở trong” và “ở với” nền văn hoá mình sống cùng và sống với, vào bất cứ giai đoạn nào trong đời để rồi biến con người của mình thành Tin Mừng, ở nơi đó.
Cảm nghiệm được tinh thần đó, ta hãy cùng nhau ngâm lên lời ca vang đầy những thơ, rằng:

            “Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp,
            Là áo người trắng cả giấc ngủ mê.”  
             (Đỗ Trung Quân – Chút Tình Đầu)   
     
            Tình đầu hay tình cuối, còn là chút tình thực hiện lời dặn của Chúa quyết ra đi rao truyền Tin Mừng rộng rãi cho mọi người. Ở mọi nơi.  

Lm Kevin O’Shea, CSsR –
Mai Tá lược dịch
______________________________________________________________________________________