Saturday, 6 February 2016

“Có nghe chăng đây lời sám-hối,”



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay năm C 14/02/2016

Tin Mừng (Lc 6: 17, 20-26)
Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói. Bấy giờ, quỷ nói với Người:
"Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!"
Nhưng Đức Giêsu đáp lại:
"Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh."
Sau đó, quỷ đem Đức Giêsu lên cao, và trong giây lát, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói với Người:
"Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông."
Đức Giêsu đáp lại:
"Đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi."
Quỷ lại đem Đức Giêsu đến Giêrusalem và đặt Người trên nóc Đền Thờ, rồi nói với Người:
"Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn. Lại còn chép rằng: Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá."
Bấy giờ Đức Giêsu đáp lại:
"Đã có lời rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi."
Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.

“Có nghe chăng đây lời sám-hối,”
                                               Giọng ai buồn cắt đoạn nẻo trần-gian.”
                                                  (Dẫn từ thơ Minh Đức Hoài Trinh)
             Mùa chay, mùa của những thử-thách. Mùa của lễ-hội gồm những thứ lửa và thách-thức cốt khuyên-răn con dân đi Đạo, luôn vững tin. Tin vào Lời Chúa. Tin về những gì thánh-sử thuật lại nơi Phúc Âm. Trình-thuật hôm nay, bắt đầu bằng một chủ-đề thần-học nghe rất quen: thử thách. Loại thách-thức mà ngày xưa ta quen gọi là: cám dỗ. 
Thử thách/cám dỗ hôm nay được thánh sử trình bày như một khác biệt rất rõ nét giữa hai quan niệm về sự cứu rỗi: một là của thế trần -mà đại diện ở đây, hôm nay là “ma quỷ”-  một lực chủ chuyên “đánh bóng” thế gian bằng những hào nhoáng của giàu sang. Vinh hiển. Quyền thế.
Đằng khác, là quan niệm chính mạch, là: phương án cứu độ mà Đức Kitô đã mang đến với người phàm. Đây, là vâng phục Thiên Chúa. Vâng phục, để vui lòng chấp nhận cuộc sống thấp hèn. Sống gian khổ và hạn chế.
“Lời kinh sám hối” hôm nay là quyết tâm hối lỗi và cải biến gửi đến dân con nhà Đạo. Lời kinh, không là “giọng buồn trần gian” nhưng phản ánh một thẩm định được ghi rõ nơi Cựu Ước. Trước tiên, là thẩm định về con số 40 rất tròn đầy.
40, là con số chỉ năm tháng “cắt đoạn trần gian” mà dân được chọn đã từng trải ngang qua những tháng ngày sống đời hèn hạ, gian khổ, hạn chế nơi hoang địa. Số 40, còn là con số no tròn chỉ những ngày giờ Đức Giêsu trải qua để chấp nhận cuộc sống thấp hèn. Gian khổ. Và, hạn chế như bao nguời.
Hãy thử nghe, lời hằng sống thánh Luca ghi lại: ”suốt 40 ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ” (Lc 4: 1-13).
Ở đây, “chịu để cho quỷ ma cám dỗ” là thách thức xảy đến không chỉ trong một khoảnh khắc rất nhanh. Mà, cả một giai đoạn thử lửa, trui luyện. Thử sức và thách thức, không nhân nhượng. Thách thức kéo dài suốt chiều dài cuộc đời rao giảng Tin Mừng cứu rỗi của Ngài, dưới thế trần.
Thử và thách, trong cuộc sống Đức Chúa được rải trong Tin Mừng Nhất Lãm, như: “Họ đòi Cha làm phép lạ” (Mc 8:11); “họ thách Chúa xuống khỏi thập giá” (Mt 27: 10); “Cha biết rõ họ đến bắt Ngài để tôn vinh” (Ga 6: 14-15).
Kể về những “cắt đoạn gian trần” đầy những thử và thách này, thánh Luca đã dùng số 3 rất trọn hảo, để truyền đạt ý nghĩa. 3 cám dỗ. 3 đề tài thử và thách suốt chiều dài cuộc sống. Đề tài, lúc đầu mang sắc mầu vật chất, rất cơm bánh, làm nền cho cuộc sống thấp hèn.
 Lực-chủ thách thức, mà đại diện là ma quỷ, đã dùng cơm bánh/vật chất để thử quyền uy biến hóa, nhiệm mầu của Chúa. Thứ quyền mà các phù thủy thời đương đại cứ rêu rao tự hào: “với sức người, sỏi đá cũng thành cơm.” Biến sỏi đá thành cơm, là thử và thách muốn đưa Chúa rời khỏi vai trò vừa là Đấng Mê-sia- vừa là Tôi tớ Chúa để bắt Ngài trở thành siêu sao chuyên cuốn hút giới mộ điệu.
Thử và thách thứ hai, là “giọng buồn cắt đoạn” đưa Chúa vào “nẻo gian trần” chỉ biết phục tùng ác thần/sự dữ để, đổi lại, sẽ được giàu sang/phú quý, lẫn uy quyền.
Thử và thách, nhằm kéo Chúa ra khỏi cuộc sống đích thực của đời người. Kéo Ngài khỏi nơi có tình thương yêu phục vụ Thiên Chúa. Khỏi thế giới, Ngài tạo nên. Thế giới, là Nước Trời ở trần gian. Thế giới, của thương yêu, đùm bọc. Chỉ thế thôi.  
Thử thách cuối, là một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất, trong đời. Khi nghĩ đến thử thách này, người người tưởng rằng đó chỉ bàn về lỗi tình dục, dối trá, nổi nóng oán giận hoặc nói xấu, ghen tương, đố kỵ, vv. Nhưng, nguy hiểm là ở: tham vọng có quyền biến sỏi đá thành cơm. Tham vọng, giàu sang/phú quý có quyền phép trên tất cả.
Thành thử, cả ba loại thử thách mà thánh Luca trích thuật, đều rất hiểm nguy, dễ mắc phải. Thử và thách này, vẫn xảy ra hằng ngày với mọi người ở đời thường. Nguy hiểm, vì nó làm giảm đi phẩm cách con người. Nó đưa thế giới phàm trần này xuống ngang hàng vật chất, con số vốn dĩ chỉ biết thu thập thật nhiều, cho mình. Nguy hiểm, vì nó khiến mọi nguời ra sức thi đua giành giựt của cải/vật chất, tạo nhiều lợi nhuận cho riêng mình, thôi.
Cuối cùng, của cải/vật chất chỉ tích tụ/tập trung vào một số rất ít những người kiêu sa/cao ngạo, hưởng lợi lộc. Còn lại, là thế giới đắm chìm trong đói nghèo, thiếu thốn. Nguy hiểm hơn, cám dỗ trên còn tạo ra thứ tín điều sai quấy khiến xã hội lấy đó làm chân lý ngàn đời cứ theo đó mà làm.
Lại nghĩ rằng; duy nhất chỉ của cải/giàu sang mới tạo hạnh phúc cho con nguời. Kẻ giàu sang, còn cho mình có quyền sở hữu những gì mình cưỡng chiếm, từ nguời nghèo đói, thấp hèn, khổ đau. Những nguời cùng sở hữu của cải, ở trần gian.
Thế Giới Mới, được Chúa đến dựng xây, bao gồm một tập hợp các giá trị cao quý. Những giá-trị mà tất cả chúng ta nhắm tới trong suốt Mùa Chay đầy thử thách. Với “lời kinh sám hối”, nay ta không chú trọng vào kẻ giàu sang bất chính. Những người có của dư của để, tức những người chỉ biết hưởng thụ. Nhưng, quyết hạch hỏi chính mình xem mình đã xét phương án Nước Trời Chúa đưa ra, chưa? 
Quyết sám hối - đổi mới chính mình, để có được thái độ chính đáng, mà Hội thánh nhắc nhở chúng ta, hôm nay. Sám hối, để có thể tự nhủ với lòng mình, rằng: từ nay ta sẽ không noi gương bắt chước kẻ giàu/người sang, chuyên thâu tóm của ngon vật lạ, của người khác.
Nhưng, sẽ tự chế không tham vọng. Không chiếm đoạt quyền hành và lợi lộc của người khác. Biết san sẻ, giùm giúp những người chỉ mong có được như mình. Những kẻ, chỉ ao ước được cuộc sống như mình nhưng không đạt được.
Tham dự tiệc thánh đầu mùa chay, ta cầu cho Hội thánh biết sám hối. Biết bảo nhau tự chế. Thương yêu đùm bọc. Để, người người cùng lướt thắng những thử và thách. Cầu mong sao, ta sẽ không tham vọng giàu sang, phú quý như đám người chỉ muốn ăn trên ngồi chốc chỉ muốn có thêm quyền hành để áp bức dân nghèo.
Cầu và mong sao, ta biết chấp nhận có lời kinh sám hối và đổi mới, chính mình. Để, cùng với mọi người, ta hăng say tái tạo một thế giới mới. Thế giới trong đó người người hăng hái sống vui tươi, sống lành mạnh, sống xứng đáng với Lời dạy của Đức Chúa.
Trong vui sống cho xứng với Nước Trời ở trần-gian, ta hãy cùng với người nghệ-sĩ đã khuất, cất cao lời vui tươi, hát rằng:
“Đừng nhìn tương-lai với những lo sợ.
Đừng nhìn tha-nhân trong nỗi nghi-ngờ hay gièm pha.
Đừng sợ chông-gai vướng chân ta.
Đừng ngại gian-lao suốt tâm hồn sáng chân người.
Đang trên đường dựng đời mới.” (Lê Hựu Hà – Bài Ca Tổi Trẻ)
Và, cũng đừng sợ những thử sức và thác-thức. Được như thế, ta mới có “lời kinh sám hối”, dám đổi mới cả thế-giới chốn gian-trần này.

Lm Richard Leonard, sj  biên soạn
Mai Tá lược dịch.

Saturday, 30 January 2016

“Thương thay những thế-kỷ vắng anh-hùng”



Suy Tư Tin Mừng tuần thứ 5 thường niên năm C 07/02/2016

Tin Mừng (Lc 5: 1-11)
Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Ghennêxarét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.
Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá." Ông Simôn đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới." Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.
Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!" Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simôn: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta." Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.


                   “Thương thay những thế-kỷ vắng anh-hùng”
                                                           (Dẫn từ thơ Chế Lan Viên)

Anh hùng, theo nghĩa của nhà thơ, vẫn thiếu vắng. Thiếu rất nhiều. Vắng không biết bao nhiêu là bóng hình thân-quen của thời xưa/cũ. Vắng, cả vào chiều hôm biền-biệt, chốn dân-gian. Những chiều hôm trong Đạo, cả ngoài đời. Ở nơi đó, có những lãnh-tụ lâu nay nói rất nhiều. Đặc-biệt hơn, nói cả vào các dịp bầu bán, rất động sôi.
Hãy thử nghĩ xem, nếu con dân của Chúa là chúng ta có trọng trách phải đi bầu để chọn lựa thủ lãnh hàng đầu trổi bật như bên dưới, ta bầu ai: Ứng viên A, được đánh giá là một chính trị gia nổi tiếng. Nhưng hơi làm một tí đã thấy mệt. Làm gì cũng hỏi ý các nhà chiêm tinh đẩu số, rất vu vơ. Tình duyên gia đạo, thì dính líu những hai người tình. Lại mắc tật nghiện hút thuốc và rượu nữa. Rất khó chữa.
Ứng viên B, được biết từng bị đuổi sở, những hai lần. Ngủ, thì thâu đêm suốt sáng vẫn còn nấn ná mãi đến trưa. Hồi còn mài đũng quần nơi ghế đại học, ông ta lại mắc chứng nghiện thuốc phiện. Về bệnh sử, thì bác sĩ chẩn đoán là ông ta mắc chứng loạn thần kinh. Ông này cũng nghiện rượu và thuốc lá.
Ứng viên C, nổi danh cùng khắp đấng anh hùng. Huy chương chiến trận đầy nơi ngực. Ăn, thì thanh đạm. Không hút sách cũng không rượu chè. Chỉ thỉnh thoảng uống vui cùng bạn bè, một chút thôi. Tình duyên gia đạo, thì chẳng rối rắm chuyện gì cả. Vậy, ta chọn ai đây? Ứng cử viên A, ư? Tổng thống Mỹ, Franklyn D. Roosevelt đấy. Ứng viên B, ư? Đích thị thủ tướng Anh, ngài Winston Churchill. Ứng viên C? Chính ông ta, người anh hùng ma đạo Adolph Hitler, Đức Quốc Xã.
 Hẳn ai cũng đều có kinh nghiệm, thông thường các ứng viên sáng giá trong mùa bầu cử, đôi lúc lại trở thành thủ lãnh rất bê bết, ở ngoài đời. Thật lòng cảm tạ, là: Đức Kitô không hội ý quân sư Thiên triều khi tuyển chọn ứng viên tông đồ, thời ban sơ. Theo giấy bút, cả thánh Phêrô lẫn thánh Gi-cô-bê và Gio-an đều đã chẳng hề tỏ ý muốn nạp đơn xin làm tông đồ, theo chân Ngài. Nhưng Đức Giê-su cũng đã nhận ra nơi các thánh tông đồ, 3 đặc điểm cần có để trở thành vị thủ lãnh trong Đạo, đó là: sự tin tưởng, niềm hy vọng và tình thương yêu. Ba đặc điểm này, không phải các thánh đã đạt ngay khi được tuyển chọn.
Đọc Tin Mừng ta vẫn hiểu là các thánh tông đồ ít hiểu rõ những gì Đức Giê-su mặc khải. Vì không hiểu, nên các ngài thường đổi đề tài sang chuyện khác. Giống như thủ lãnh - anh hùng, cũng từng hứa hẹn rất nhiều điều, nhưng chẳng giữ được bao nhiêu. Khi gặp tình huống trớ trêu, gay go, đa số đều bỏ Thầy, chạy lấy người.
Tuy nhiên, có một điểm son mà hầu như các lãnh tụ vẫn đạt được trong thời gian đào luyện, là: có sự hỗ trợ của vị cố vấn giàu kinh nghiệm. Vị này biết rõ đệ tử mình không là người trọn hảo. Nên, đã cho người mình chọn biết rõ sự thật. Và, còn đem họ trở lại sống theo đường lối tốt lành xưa cũ. Và còn, tạo nguồn hứng khởi cho đàn em đệ tử bằng lời khuyên và gương sống tốt đẹp nữa.
 Nhiều lúc ta nghĩ, Tin Mừng bao giờ cũng đòi hỏi ta phải có lối sống khác lề lối tệ bạc mình vẫn sống. Và, chuyện này thường vẫn là sự thật hiển nhiên. Đọc Phúc âm hôm nay, ta hãy nên suy nghĩ theo cung cách nghiêm túc, không theo nghĩa đen, thì ta sẽ cảm nghiệm được điều đó.
 Để giúp ta cảm nghiệm, thánh Luca ghi lại một yếu tố rất rõ: “họ bỏ hết mọi sự mà theo Người.” Với Đức Giêsu, điều này không có nghĩa bảo rằng: thánh Phêrô từ bỏ gia đình thân thiết của thánh nhân để theo Chúa. Bằng chứng là: các tông đồ cũng vẫn trở về với công việc đánh cá, rất nhiều lần, trong suốt đường đời theo chân Chúa.
Thánh Luca còn dạy thêm: bỏ mọi sự để theo Đức Kitô là một chọn lựa rất triệt để. Dấn thân theo Chúa, là gột bỏ khỏi nơi mình những gì ngăn chặn không cho ta phục vụ Vương Quốc Nước Trời. Đổi lại, người theo chân Chúa phải là người luôn trau dồi, tu chỉnh mọi thứ ngõ hầu đưa ta vào cuộc sống hài hòa, nơi Đạo Chúa. Và, dấn bước theo chân Đức Kitô phải là hành động xuất phát từ con tim, mỗi người.
Đọc kỹ Tin Mừng, ta thấy thánh Luca cho biết nhiều vị trong Hội thánh đã quay về sống đời phải Đạo làm con Đức Chúa. Trong số ấy, có rất nhiều người vẫn còn là tội phạm. Chẳng ai mang dáng dấp vị anh hùng, hoặc thủ lãnh nơi trần gian. Chính vì thế, Hội thánh thời tiên khởi đã gặp khó khăn khi tiếp nhận các vị mới gia nhập.
Khi tuờng thuật chuyện thánh Phêrô đầy tội lỗi là thế, nhưng vẫn được Đức Giê-su mời gọi theo chân Ngài, thánh Luca muốn xác định một điều: Bất cứ ai chấp nhận bỏ lại đằng sau, quá khứ hư đốn tồi tệ của cuộc sống bê tha khi trước, vẫn được dẫn dắt trở thành môn đệ Đức Kitô. Điều này, thánh sử cũng muốn hàm ngụ rằng: ta không được phép lên án bất cứ ai được lưới cứu độ của Thiên Chúa phủ trùm.
Và, một khi đã ở trong lưới cứu độ của Đức Chúa, ta chỉ cần tin tưởng vào tình yêu thương và lòng độ lượng của Ngài. Để rồi ta sẽ lan rộng tình thương ấy bằng hành động thăm viếng giúp đỡ kẻ đau yếu lẫn người lành mạnh.
Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong cho Hội thánh Chúa chọn có được tinh thần khiêm hạ nhận rằng Chúa vẫn xoay chuyển lật ngược mọi phê phán của ta. Ngài sẽ thay đổi hẳn mọi lề luật, qui cách, nghị định hoặc tập tục thói quen, cùng phương sách quản trị nào của thế giới không dựa trên tình thương yêu giúp đỡ người khác.
Và từ đó, Ngài sẽ đưa ra các anh hùng lãnh tụ nào khả dĩ trưng dẫn được cho mọi người thấy chiều kích tình thương của Chúa nơi những sơ xuất, yếu mềm của con người.
Cầu mong sao, “những thế-kỷ ta đang sống dù vắng bong các anh-hùng, lãnh-tụ”, thế-giới này vẫn không để luột mất tình thương cứu-độ của Đức Chúa. Lại cũng cầu và mong, sao cho các lãnh-tụ trần-gian dù từng làm những chuyện không đáng nở mặt anh-hùng, vẫn không ngăn ta có được sự tin-tưởng, niềm hy-vọng và lòng tỏ-bày tình thương-yêu đến hết mọi người. Cả, với thế-giới ngoài đời lẫn trong Đạo.
Được như thế, ta sẽ cùng với mọi người, cả anh-hùng, lãnh-tụ lẫn dân đen, cùng hát lên lời ca đầy hy-vọng của nghệ-sĩ họ Lê sau đây:
“Mặc thế-gian tranh đua anh-hùng,
Nào nhẹ gót, ta cùng bước ra khỏi ưu-phiền.
Rời xa chốn phong-trần để sống cho tình yêu.”
(Lê Hựu Hà – Sống Mãi Với Tình Yêu)

Bởi lẽ, trong đời dù “những thế-kỷ có thiếu vắng anh-hùng” đi nữa, ta vẫn cứ thương và cứ yêu, hết mọi người, suốt mọi thời.
 
Lm Richard Leonard, sj  biên soạn
Mai Tá lược dịch.

Saturday, 23 January 2016

“Trời đất thực ra nào có tội”,



Suy Tư Tin Mừng tuần thứ 4 thường niên năm C 31/01/2016

Tin Mừng (Lc 4: 21-30)
Hôm ấy, tại hội đường Nazarét, sau khi đọc sách ngôn sứ Ysaya, Đức Giê-su bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh thánh tai quý vị vừa nghe.” Mọi người đều tán thành và thán phục những lời ân sủng từ miệng Người nói ra.
Họ bảo nhau:
“Ông này không phải là con ông Giu-se đó sao?” Người nói với họ: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy tự chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!” Người nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình,
Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlya, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà góa ở trong nước Israel; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ đuợc sai đến giúp bà góa thành Xarépta miền Siđôn. Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlysa, thiếu gì người phong hủi torng nuớc Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Syrie thôi.”
Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi người ra khỏi thành –thành này được xây trên núi-. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng giữa họ mà đi.

“Trời đất thực ra nào có tội”,
             (Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

            Vâng. Đúng thế! Cả tội chết, hết anh-hùng. Dù, anh-hùng ấy có làm đúng hay sai nơi xứ sở quêe-hương mình. Dù, anh-hùng ấy có là tiên-tri/ngôn-sứ hay Đấng Cứu-tinh cả trời đất, rất nhân-gian. Dù đến thế nào đi nữa, trời/đất, nhân-gian vẫn thường nghe những lời tương-tự “Chẳng tiên-tri nào được sủng-mộ nơi quê nhà”, như lời Thày đà phán.
            Vâng. Quả là như thế! Lời Thày phán-bảo trong Phúc Âm hôm nay, thật rõ ràng. Đọc kỹ từ đầu bài đến cuối trình-thuật, người đọc hẳn nhận ra rằng đám đông quần-chúng trong trởi đất, vẫn như điên như dại khi nghe Thày phán bảo sự thật ấy. Và, quần-chúng nhân-gian như muôn ném Đấng Cứu Tinh trời đất xuống vực sâu. Ở triền đồi gần nơi Thày đứng đó giảng-giải.
            Ngày hôm nay nữa, mọi việc trong trời đất đã dần dà đổi thay. Thay rất nhiều. Đổi không biết là bao nhiêu. Nhưng dù có đổi thay, trời đất thực ra nào đã nên tội. Nên tội chăng, chẳng phải do trời đất, đất đời nên cớ sự.
Thời buổi này, đã thấy xuất hiện nhiều trò thao tác đổi thay, đến kinh hồn bạt vía. Nhiều người trẻ hôm nay, thích chơi trò nghịch ngợm đến rụng tim. Chỉ để thay đổi. Cả đến các anh hùng gan dạ, nơi đất trời lồng lộng cứ thích chơi trò nghịch ngợm, chẳng sợ ai.
Phần đông người khác không thể hiểu sao giới trẻ ngày nay thích cột giây vào cổ chân, nơi mắt cá; để rồi, phóng mình như người rồ dại xuống chân đồi toàn vực thẳm. Tưởng chừng như họ chỉ muốn tìm đến nơi nguy hiểm, không ai dám.
            Dường như người trẻ hôm nay, vẫn thích trò cá độ đầy thử thách. Thách thức mức bộc phá xuyên qua lớp sương mù dày đặc, những lo âu. Chừng như, người trẻ những muốn bứt phá các kỷ lục đã lỗi thời của người xưa: về thành tích gan dạ, ít khi thấy. Thứ thành tích, cận kề với thần chết chẳng hề nao núng hay lo sợ. Tuổi trẻ hôm nay là như thế.
Ngược lại, những người như ta, dù trẻ hay không, vẫn chẳng muốn thử lòng gan dạ với anh hùng. Chẳng là đám ngu si bốc đồng dám thách thức với tử thần, để ra oai. Chọn lập trường nào đi nữa, vẫn phải thừa nhận rằng những người làm như thế đều muốn chứng tỏ rằng: mình là người anh hùng gan dạ cũng như ai.
Tuy nhiên, anh hùng gan dạ trong yêu thương, chính là trọng tâm của các bài đọc hôm nay. Vẫn biết rằng, phần đông quần chúng khắp nơi chẳng thích nghe, thích tìm về Lời Chúa. Nhưng, Đức Giê-su vẫn can trường dẫn giải mọi sự cho người anh em mình ngay tại quê hương xứ sở mình. Thời nào cũng thế, ngay thời ngôn sứ trong Cựu Ước cũng có những vị như tiên tri Giê-rê-mia dám can trường lặn lội khắp nơi –cả ở quê hương mình- chỉ để giảng rao lòng yêu thương trìu mến Thiên Chúa muốn có ở trần gian. Bất kể hiểm nguy hay bách hại xuất phát từ dân gian nơi thôn làng mình từng sống.
Và hôm nay, thánh Phaolô minh chứng lý do tại sao nhiều vị, bất chấp mọi hiểm nguy, dám hứng chịu muôn vàn khốn khó, thường thấy có ở nơi dân gian trong trời đất. Cả vào lúc bị coi là ngu si cuồng nhiệt hoặc có tội với đất trời, các vị vẫn làm vì lòng thương yêu trìu mến, hết dân gian. “Yêu”, là cụm từ được mọi người sử dụng rộng rãi, nơi đất trời ngàn năm mây bay này.
Ngay đến chuyện vật chất – nhân gian như: cửa nhà cơ ngơi, vui chơi lễ hội, đua đòi se sua hoặc thi đua sắm sửa, người người vẫn cứ bảo rằng mình yêu, mình thích. “Yêu”, là ngôn từ được sử dụng bừa bãi, không còn mang ý nghĩa sâu sắc của lòng thương yêu trìu mến, nơi tín hữu nhà Đạo.
Thánh Phaolô dẫn giải tỉ mỉ trong bài đọc hôm nay, để mọi người hiểu rằng: yêu thương trìu mến, trước nhất không là cảm xúc xuất thần rần rần như tiếng phèng la, kêu ra rả. Mà, thánh nhân thừa hiểu: lòng yêu thương trìu mến nơi tín hữu Đức Kitô là chuyện rất thực.
Yêu thương đích thực phải là, và luôn là, trạng thái của tín hữu Đạo Chúa, dám bảo rằng mình rất yêu thương mọi người. Đồng thời, cũng chứng tỏ rằng mình yêu thương thực sự bằng hành động, chứ không  bằng môi miếng, bề ngoài.
Thánh Gio-an tông đồ cũng ghi rõ trong Tân Ước một quả quyết rất xác thực: “Nếu anh em bảo mình yêu thương trìu mến Thiên Chúa, mà lại ghét bỏ người hàng xóm, cận lân, thì chắc chắn anh em chưa thật lòng”.
Quả thật, chúng ta có thể tỏ ra chính thực về lòng thương mến Chúa và người anh em đồng loại, bất cứ khi nào chúng ta muốn. Nhưng, nếu không chứng minh được điều mình nói bằng cuộc sống riêng tư, thì có khác nào tiếng chũm choẹ chập choeng, thanh la phèng phèng. 
Không thể nói chuyện lòng vòng quanh co, khi bàn về lòng yêu thương trìu mến nơi Đạo Chúa. Lòng thương yêu nơi tín hữu đi Đạo là: ở nơi nào cũng thế, tình yêu đích thực luôn bao gồm sự hy sinh, rất triệt để. Nhưng vấn đề, là: Làm sao có thể vừa yêu thương lại vừa hy sinh triệt để như thế được? Và, tại sao phải yêu như thế?
Dễ hiểu thôi, yêu như thế là vì mọi người khác đã từng yêu ta. Mọi người yêu như tình yêu phải có của người tín hữu Đức Kitô. Tức, những người đã đối xử tử tế, nhân đạo và kiên nhẫn với ta. Yêu theo kiểu dị kỳ mới lạ, tức tự nguyện chứ không phải bất đắc dĩ, vì được dạy bảo mà thôi.
Tình yêu được dạy bảo là phải yêu cả những người đã ngã quỵ trong đau thương sầu thảm. Yêu, như tình yêu của người tín hữu Đức Kitô là yêu thương rất mực. Yêu đến cùng. Yêu không chỉ một chiều, nhưng còn chỉ bảo, dẫn dắt nhau đi vào tình yêu của cộng đoàn, rất phổ cập. Đó mới là yêu thương đích thực. Yêu như Đức Kitô yêu Giáo hội. Yêu loài người.
Tình yêu đích thực là tình yêu cao cả, đầy thử thách được thể hiện khi người khác chứng tỏ đã yêu thương ta mạnh đủ để nói cho ta nghe những chuyện thật về con người của ta. Và đổi lại, ta cũng tỏ bày những chuyện thật về mình cho người khác biết.
Đấy mới là yêu thương đích thực. Có yêu như thế, ta mới dám lao mình vào chốn không quen, rất tăm tối cận kề sự chết. Bởi, một khi đã đồng hành với những người anh em cùng tin vào Đức Kitô, ta duy trì được niềm hy vọng sâu xa, cả vào những giây phút khó khăn trong cuộc đời. Cả những lúc rất khó tỏ bày tình yêu thương của mình. Lòng yêu thương đích thực là yêu mến, có hy sinh. Ta vẫn thường gọi đó là thái độ yêu thương trìu mến của mọi kẻ tin Chúa, nơi nhà Đạo.
Đức Giêsu chẳng khi nào khẳng định rằng: yêu thương như thế là chuyện rất dễ làm. Nhưng luôn là việc cần làm. Còn cần hơn, nếu ta muốn đi cho hết đọan đường của hành trình sống rất tràn đầy. Đầy yêu thương. Đầy hạnh phúc. Và khi đã hạnh phúc trong yêu thương, ta sẽ thấy mình không còn đơn độc, lẻ bóng; nhưng có cả binh đoàn gồm những người anh em rất thân thương, đi bước trước.
Từ tiên tri Giêrêmia cho chí Đức Kitô, từ thánh Phaolô cho đến các thánh tử đạo, các thánh nam nữ và chính gia đình thân thương của ta, ai cũng biết, mình có thể trấn ngự được nỗi âu lo sợ sệt vẫn còn đó. Qua niềm tin vào những gì đã ghi chép về đường hướng yêu thương của người xưa đã thực hiện, hãy công khai tỏ bày lòng quả cảm của ta với hết mọi người.
Cho dù, có cận kề vực thẳm âu sầu đang gần kề với cái chết. Hãy có những bước nhảy đi vào tương lai mai hậu bằng 3 sợi giây buộc chặt cổ chân, quanh mắt cá. Một sợi mang tên “Niềm tin”, sợi kia là sự “Hy vọng” và, sợi chính yếu được viết rõ là “Tình yêu” .
Tham dự tiệc lòng mến hôm nay, ta cầu mong có nhiều ân sủng để yêu thương hết mọi người như điên như dại, theo nhãn giới của người đời. Cầu và mong sao ta có được lòng gan dạ quả cảm của người anh hùng đưa ta đến với tình yêu thương kẻ khác trong hy sinh, và độ lượng. Cầu và mong sao mọi người biết thương yêu trìu mến, dù cho có cận kề với cõi chết, chỉ vì yêu. Yêu lẫn nhau. Yêu không ngại ngần.

Lm Richard Leonard, sj  biên soạn 
Mai Tá lược dịch.