Saturday, 9 April 2016

“Tình có cho đi chẳng có về,”



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C 17/4/2016

Tin Mừng (Ga 10: 27-30)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các người Do thái rằng:
"Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một."

                        “Tình có cho đi chẳng có về,”
          “Lòng kêu gọi mãi chẳng ai nghe.
           Cho nên, từ đấy tôi ngơ-ngẩn,
            Làm những bài thơ lạc cả đề.”
               (Dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

            Tình mình có cho đi cũng đâu bằng tình của Đức Chúa. Đức Chúa vẫn cho đi. Cho trọn đời Ngài. Ngài cho đi cũng rất nhiều, mà chẳng lấy về. Và, lòng người có “kêu gọi mãi”, cũng đâu bằng lòng gọi mời từ Đấng Thiên Sai. Đức Chúa-Thiên-Sai vẫn luôn cho và mãi gọi. Ngài mời gọi mọi người đáp lại tình muôn thuở Ngài cho đi. Tình Ngài cho đi, cón là Tin Vui An Bình được thánh Gioan Tin Mừng ghi lại ở phụng-vụ Chúa Chiên Lành, rất hôm nay.           
Phụng-vụ Chúa Chiên Lành hôm nay, gồm tóm thông điệp gốc-nguồn xưa cổ, thời Cựu Ước. Đặc biệt là sách Êzêkiel, trong đó sáng ngời hình ảnh vị Chúa Chên có “tình cho đi mà chẳng có về”.
“Tình cho đi” của Chúa Chiên hôm nay, là sự đỡ nâng đùm bọc, đầy lòng thương xót. Lòng xót thương hai chiều giữa chiên đàn mà Ngài chăn dắt và Vị Chủ Chăn, rất Nhân Hiền. Ở chiên, luôn có sự tự nguyện dấn bước theo chân vị chủ chăn với lòng trọn vẹn tin tưởng. Ở chủ chăn, đó là “lòng kêu gọi mãi”, dù chẳng ai nghe.
Về chăn chiên, các chủ chăn ở Palestine - Trung Đông có thói quen chăn dắt chiên đàn nơi đồng cỏ xanh tươi, bằng đôi chân bước. Chủ chăn chẳng cần đến đàn chó hoặc ngựa cỡi, để lùa chiên như ở Tô Cách Lan, hay nước Úc. Chủ chăn Do Thái, luôn ở phía trước dẫn đường cho chiên con.
Và cứ thế, chiên con nghe tiếng chủ kêu gọi mà bước theo sau, rất tin tưởng. Chiên là thú đàn rất hay lo. Dễ hốt hoảng, cách vô lý. Chiên âu lo, nhớn nhác chạy hỗn độn chẳng nguyên cớ. Bất kỳ chuyện tình cờ nào xảy đến, chiên đàn cũng hốt hoảng, chạy tứ tán. Tìm chủ chăn. Và, khi tìm được chủ chăn, thì chiên con cứ răm rắp bước theo đàn, về cùng hướng. Với chiên, chỉ cần nhận ra lời kêu gọi của chủ chăn, là đã đủ.
Là thú bầy nhút nhát, hay lăng xăng tò mò. Dễ tổn thương. Âu lo. Nên, chiên đàn luôn hãi sợ. Không khôn ngoan cũng chẳng sáng ý như thú loài, nào khác. Chiên quen nghe tiếng chủ, nên khi nghe chủ gọi, chiên không chần chừ, biết tụ tập ngay thành nhóm, thành đàn, tuân lệnh chủ. Không chậm trễ. Chủ biết tính chiên. Chiên biết tính chủ.
            Dựa vào đức tính này, thánh Gioan so sánh tâm lý của vị chủ chăn với chiên bầy dễ bảo. Và, thánh sử ví Đức Kitô như Chúa Chiên Nhân Hiền luôn chăm sóc chiên con, nơi đàn bầy. Đây là biểu tượng mà Hội thánh sử dụng để nói về Ơn Gọi trong nhà Đạo: hãy có quyết tâm tham gia trở thành chủ chăn dẫn dắt đàn chiên ngoan đạo.            
Lời mời gọi của Hội thánh hôm nay cũng trở nên cấp thiết, khi dữ liệu cho thấy có sự thiếu cân bằng về số lượng và vai trò của các chủ chăn, trong cộng đồng Giáo hội. Chí ít, là Giáo hội ở phương Tây. Ở nhiều nơi, Giáo hội đang bắt đầu dung nạp các ứng viên cho vai trò của chủ chăn từ các nuớc mà trước đây là cánh đồng truyền giáo, đầy những chiên.
Bởi thế nên, ta cần suy tư nghiên cứu phương pháp và cấu trúc trong đào tạo chủ chăn. Nói cách khác: với Phụng vụ Chúa nhật Chúa Chiên Lành, Hội thánh trở về với Ơn Kêu Gọi làm chủ chiên, lo chăn dắt linh hồn chiên đàn, tin vào Đạo.
            Bàn về Ơn Gọi làm chủ chăn trong Hội thánh, là bàn về sự quan yếu của tình thân thương mật thiết trong cộng đồng dân Chúa. Trước nhất, là sự mật thiết giữa chiên con và chủ chăn, tức Đức Kitô rao giảng, vẫn được coi như sự thân mật linh thánh giữa các thành viên cùng nhà, tức Hội thánh Chúa. Gia đình Hội thánh Chúa ở đây được hiểu theo nghĩa gia đình hợp nhất.
Hợp nhất không chỉ hiểu theo hệ cấp thần quyền bên trên. Mà là, sự thân mật giữa mỗi người và mọi người. Vì, tất cả thành viên trong gia đình Hội thnh đều là chi thể có cùng một thân mình, cùng não bộ chỉ huy; và, cùng nhịp đập con tim, tạo sức sống.
            Sự mật thiết thân thương giữa thành viên trong Hội thánh không là sự thân thiết mang tính chai lì, thụ động. Thụ động, như thái độ vẫn thấy nơi dân thường trong hệ cấp chính quyền, ở ngoài đời. Với thế quyền ngoài đời, người dân chỉ biết có đóng thuế. Và, thi hành luật pháp, thế là đủ.
            Trong đạo, thực thi luật pháp và thi hành lệnh cũng tựa như giữ các điều răn, giới luật của Hội thánh. Như thế chưa đủ. Còn phải biết dấn thân hơn nữa. Tức là đáp lại lời kêu gọi mất thiết của Hội thánh.
            Hội thánh thân thương mật thiết kêu gọi con dân nhà Đạo hãy luôn nguyện và cầu. Nguyện cầu cho Ơn Gọi, trong Hội thánh. Kêu gọi mỗi thành viên tham gia trở thành thừa tác viên cho công tác mục vụ của Hội thánh. Công tác này có thể là vai trò của vị chủ chăn, như linh mục, tu sĩ hoặc nữ tu. Cũng có thể là thừa tác giáo dân trong vai trò cộng tác với các linh mục tu sĩ ấy.
            Hội thánh, nay vẫn tiếp tục kêu gọi mọi thành viên trở nên linh mục tu sĩ lo việc tu đức trong cộng đồng dân Chúa. Nhưng gọi như thế, không có nghĩa Hội thánh lọai bỏ sự trân trọng về nhu cầu cần thiết, nơi vai trò của giáo dân trong công trình hợp tác xây dựng Nuớc Chúa.
Ngày nay, có lẽ nên hiểu Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên theo nghĩa phổ cập. Nghĩa là, mỗi người một hoàn cảnh và vị thế, tất cả thành viên đều có thể hoàn thành hợp tác với Hội thánh trong công trình chăn dắt đàn chiên con Giáo hội. Mặc dù, nhu cầu trở thành linh mục/tu sĩ, hoặc nữ tu vẫn được nhấn mạnh và coi là ưu tiên hàng đầu.  
            Tham gia đáp ứng Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên còn là nhận biết lời mời gọi ấy nay gửi đến chính mình, mỗi thành viên. Không phân biệt giới tính, tuổi tác hay sắc tộc. Nhận biết lời Mời Gọi của Hội thánh, đại diện Chúa Chiên Hiền Lành, cũng phải được cân nhắc theo hoàn cảnh của mỗi thành viên và Giáo hội địa phương.
            Lời mời gọi của Chúa Chiên Lành, còn là quà tặng riêng lẻ mỗi người đều có thể sử dụng để làm lợi cho người khác. Thành viên khác. Trong cộng đồng Giáo hội, tức các Kitô hữu. Điều này có nghĩa: trên thực tế, ta hãy cùng nhau thực hiện công tác chung của cộng đoàn tình thương là Giáo hội. Công tác xây dựng cộng đoàn tình thương của Đức Chúa, là Chúa Chiên Lành, vẫn đang chờ sự đáp trả của mỗi thành viên.
Thành thử, cầu nguyện cho Ơn Gọi, còn có nghĩa là cầu nguyện cho ta, cho người khác, cho bạn bè người thân cùng có Ơn Gọi, chứ không chỉ mình ta. Cầu cho Ơn Gọi, là cầu cho mọi người nghe được tiếng kêu. Tiếng gọi. Của vị chủ chăn đang khẩn thiết kêu mời tất cả dân con trở thành thừa tác viên – tông đồ cho cánh đồng truyền giáo chung.
Cầu, là cầu cho mỗi người. Ở một vị thế. Ta chung lưng đấu cật, cùng nhau thực hiện sứ vụ dựng xây Cộng đoàn tình thương là chính Hội thánh thân thương, ta đang sống. Cầu, là cầu cho toàn thể cộng đoàn biết nghe tiếng gọi của Chủ chăn. Biết tính của chiên đàn, đang lắng nghe tiếng gọi của người chăn dắt.
Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta hãy để ra nhiều khoảnh khắc mà suy tư nguyện cầu về lời gọi mời của Chúa Chiên Hiền Lành, biết ý chiên con. Nguyện cầu cho lời gọi mời của Chúa Chiên gửi đến mỗi chiên con, đem lại kết quả. Với đáp ứng của chiên con.
Trong Hội thánh, nguyện và cầu cho chiên con biết đáp lại bằng hai tiếng “Xin Vâng”. Xin vâng, theo thánh ý Chúa mà lãnh nhận bất cứ vai trị nào để phục vụ Hội thánh. Xin vâng, để nếu không làm linh mục, tu sĩ, nữ tu, ta cũng làm thừa tác viên; hoặc phó tế mở mang Nước Trời. Ở trần gian.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn
Mai Tá lược dịch.

Saturday, 2 April 2016

“Cho tôi hát cùng em bài hát cũ”,



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Ba Phục Sinh năm C 10/4/2016

Tin Mừng (Ga 21: 1-19)
Bấy giờ, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Simôn Phêrô, ông Tôma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simôn Phêrô nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây." Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh." Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.
Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giêsu. Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư?" Các ông trả lời: "Thưa không." Người bảo các ông:"Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá." Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.
Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: "Chúa đó!" Vừa nghe nói "Chúa đó!", ông Simôn Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.
Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giêsu bảo các ông: "Đem ít cá mới bắt được tới đây!"Ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói: "Anh em đến mà ăn!" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "Ông là ai?" vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.
Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Si-môn Phêrô: "Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?" Ông đáp:"Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giêsu nói với ông:"Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." Người lại hỏi:"Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?" Ông đáp:"Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói:"Hãy chăn dắt chiên của Thầy." Người hỏi lần thứ ba:"Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?" Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần:"Anh có yêu mến Thầy không?" Ông đáp:"Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giêsu bảo:"Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn." Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông:"Hãy theo Thầy."


“Cho tôi hát cùng em bài hát cũ”,
Bài ngợi ca Thiên Chúa ở trên trời.
Để tôi về cầu nguyện với Ngôi Hai
Cho ta sống một ngày như mấy kiếp.”
                                                       (Dân từ thơ Du Tử Lê)
Sống một ngày như mấy kiếp, là lời cầu của bà con người người, với Ngôi Hai. Và, ngày dài như mấy kiếp, lại cũng là hạnh-phúc mà thánh hội thời tiên-khởi, đã có được. 
Phụng vụ hôm nay kể về hạnh phúc mà cộng đoàn Hội thánh đã và đang cảm nghiệm vào những ngày giờ, sau Phục Sinh. Hạnh phúc mà Hội thánh cảm nghiệm, là hạnh phúc có Thầy trở về.
Thầy trở về, Hội thánh tiên khởi nay sống thành cộng đoàn nhỏ, rất thân thương. Về với môn đệ, Thầy sống với công việc bình thường của đồ đệ, như khi trước. Sống có chài, có lưới, có nỗi gian lao phấn đấu, tự bao giờ.
Cuộc sống của Hội thánh sau Phục Sinh, nay thấy đồ đệ Thầy mỗi ngày một đông hơn. Đồ đệ Thầy, nay không còn hãi sợ bất cứ ai. Nhưng vững tin hơn, vì có Cha ở cùng. Cha là Bình an. Là, tình Thương yêu luôn đỡ đần.
Kể từ nay, Hội thánh chứng tỏ lòng chung thủy với Cha, và với Thầy như đã dặn. Lời Thầy dặn, nay thành hiện thực. Qua hy sinh, đùm bọc và ủi an. Đùm bọc và ủi an, trên bước đường rao truyền Tình yêu của Chúa với dân gian người đời. Đùm bọc và ủi an, dù phải trải qua những tháng ngày “dài như mấy kiếp”.
            Ngày dài Hội thánh luôn có sự hiện diện, đỡ nâng của Thầy. Về với thuyền và với lưới, Hội thánh đại diện cho Chúa, không về để hiện diện, mà thôi. Nhưng, còn hoạt động trong Thầy với dân con của Thầy. Về với Hội thánh, là về với người thân vì Thầy không bỏ đàn con.
Như Phêrô thánh nhân, Hội thánh đã điều chỉnh cách thế ăn mặc, lối sống để tỏ lòng yêu thương chính Đấng mà mình tôn kính. Tỏ lòng yêu thương tôn kính Chúa, Hội thánh cũng san sẻ bẻ bánh với Thầy, với dân Chúa sau Phục Sinh. Hội thánh nay sẻ san yêu thương/tôn kính, qua tiệc thánh ngày cuối tuần, tiệc agapè tương kính.
            Cùng bẻ bánh với Chúa Phục Sinh, Hội thánh nay chẳng còn hỏi: Ngài là ai? Vì, nay đã rõ: đó là Thầy. Là, Chúa Phục Sinh vinh hiển. Và, đồ đệ Chúa nay vững tin. Và, cũng biết rằng: từ nay Thầy sẽ xuất hiện nơi diện mạo, của người khác. Có lúc, là hình hài của bạn bè thân thương. Có khi, là người nghèo hèn, đói khổ. Có thể, là kẻ thù mà mình vẫn giữ trong tâm tưởng, trong cuộc sống.
            Về với Hội thánh, Thầy không chỉ có mặt vào khoảnh khắc sôi nổi, nhiệt náo vào ngày hội lễ. Mà, Thầy còn hiện diện chốn biển khơi, nơi bờ hồ hoặc bãi biển. Thầy hiện diện, là ở với đồ đệ thân thương trên đường Emmaus và cuộc đời.
Thầy hiện diện nơi phòng chật hẹp, cửa kín then cài vì âu lo. Biết có Thầy ở cùng và ở với, đàn con Hội thánh sẽ ngợi ca Thiên Chúa, như thánh Gioan bày tỏ trong sách Khải Huyền: “Tất cả đều tung hô: xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Chiên Con lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời.” (Kh 5: 13-14)
            Cùng ngợi ca với đàn con thân thương, Hội thánh không chỉ vui mừng vì đã thấy rõ Thầy đã trở về. Nhưng, nay còn chứng tỏ cho người người đều rõ cho cả người trong cuộc, cùng kẻ ở ngoài rằng: từ nay, mình sẽ là Kytô khác. Và, Kytô khác, tức đồ đệ Chúa là: những người nói được như thánh Phêrô, sau lần chối Chúa:“Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21: 16)
            Khi nói lời yêu mến, mọi xa cách/chối bỏ, được hóa giải, hàn gắn và thứ tha. Và, đây là lúc Hội thánh gánh vác sứ vụ chăm sóc đàn chiên trong cùng ràn: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy!” (Ga 21: 17).
Chăm sóc chiên, là trách vụ lớn lao không chỉ là nguyện cầu trong hân hoan, hạnh phúc như Thầy để lại. Mà cả trong thực thi trách vụ. Tức, chăn dắt chiên con cho đúng hướng. Chiên con, là những người vẫn ở lại với nhà Đạo hay còn ở ngoài. Chiên con, là những người biết phấn đấu ngợi ca. Thầy trở về, ở với chiên, là thông điệp hân hoan, hạnh phúc.
Tham dự Tiệc hôm nay, ta hiệp lòng cảm tạ ân huệ Cha ban cho mỗi người, mùa Phục sinh. Tràn đầy sức sống. Cảm tạ, vì nay ta được giải thoát khỏi mọi xích xiềng trói buộc của thân xác, rất yếu mềm.
Cảm tạ, vì nhờ có Phục Sinh, ta được giải thoát khỏi mọi hãi sợ như đồ đệ thời trước. Cảm tạ, vì được dẫn dắt theo đường lối, rất Phục sinh. Cảm tạ, để sống cuộc đời có tình thương yêu, đỡ đần, hy sinh và có cứu độ. Một ân huệ, mà lẽ đáng ra, ta không đáng được nhận. Nếu Thầy không yêu thương và cứu rỗi. Cảm tạ, vì Thầy đã ủy thác sứ mệnh rao truyền tình thương yêu Phục sinh với mọi người.
Trong bầu khí hăng say đầy cảm-tạ, ta sẽ cùng với mọi người, nghệ-sĩ cũng như dân con nhà Đạo hân-hoan hát mừng bài ca yêu-thương thuở trước, rằng:

“Đừng sợ bạn ơi, hãy đứng thẳng lên!
Cuộc đời đang giang tay đón ta,
Bằng yêu thươngta đi xoá tan mọi căm hờn.”
(Lê Hựu Hà – Bài hát cho người tuổi trẻ)

Đúng thế. Đức Chúa Phục SInh nay đã xoá tan đi mọi hãi sợ, và hờn căm. Và, cuộc đời nay đang giang tay chờ đón những bước chân nhân hiền, để mọi người làm ngay một việc, là: yêu thương ra đi xoá tan màn đêm của hờn căm, với hãi sợ. Và, cũng để em “hát bài hát cũ” ngợi ca Thiên-Chúa ở trên trời, và nguyện cầu Ngôi Hai cho tất cả mọi người cứ thế mà hát. Cứ thế mà yêu thương loan truyền tình thương-yêu cứu-độ, của Đức Chúa, cho mỗi người và mọi người. 

Lm Richard Leonard, sj biên soạn
Mai Tá lược dịch.

Saturday, 26 March 2016

“Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng”,



Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh năm C 03/4/2016

Tin Mừng (Ga 20: 19-31)

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."

Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tôma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"

Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người

“Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng”,
Nguyện cầu xin cho thế gian mãi vui”
(Dân từ thơ Quốc Vượng)

Thắp sáng ngọn nến, để thế-gian mãi vui, còn là thắp sáng cả niềm tin-tưởng của dân gian trần thế, chốn người phàm. Thắp sáng ngọn nến tinh-thần đầy tình thương còn là ý-tưởng được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, ghi lại giòng kể rất thông thoáng những điều dính dấp đến niềm tin của TôMa. Là môn đệ một lòng yêu Chúa, nhưng thánh nhân vẫn tỏ ra hơi cứng tin. Vẫn tuyên bố một lập trường, nghe khá quen. Lập trường: chỉ tin khi được phép sờ vào vết thương đau Thầy Chí Thánh, nay sống lại.

Tôma là hình ảnh của rất nhiều con dân nhà Đạo, ở khắp nơi. Những người có thói quen phản ứng theo cung cách của chốn đời thường. Chí ít, là nơi các kẻ tin cậy và thương mến Đức Kitô, những thành viên dấn bước theo chân Chúa, xưa cũng như nay. Có thể gọi họ là những người có niềm yêu không thay đổi. Nhưng, niềm tin như thế cũng chẳng nên “viết trrên giấy có kẻ giòng”, ngày Chúa sống lại.

Trình thuật tuần Chúa sống lại, là Tin Mừng mới mẻ về một niềm yêu, và cả về niềm tin. Mới mẻ là bởi, trên hết mọi sự, niềm tin phải là tin vào Đức Kitô sống lại. Và, niềm yêu cũng cũng vẫn là lòng thương mến Đấng Nhân Hiền đã dạy đàn con thân yêu phải như thế. Ngài yêu thương loài người rất bền bỉ, cả lúc chết lẫn khi sống lại. Khi sống lại, Ngài hoàn tất sứ vụ Thiên Sai, Cha đã trao. 

Tin Mừng Chúa đã sống lại nay hiện diện với Tôma thánh nhân, cũng mang dáng dấp của một thuật truyện khá thần bí. Thần bí với Tôma là đại diện cho nhiều dân con nhà Đạo. Khá thần bí, vì dân con nhà Đạo không hiểu rằng sứ vụ Thiên Sai chỉ kết thúc bằng và qua sự Sống lại của Đúc Chúa; để nhờ đó, Ngài mới về với Thiên tính, hòa hợp cùng Chúa Cha.

Trình thuật hôm nay còn nhắm gửi đến cộng đoàn Êphêsô, là hội thánh đang hoang mang và hãi sợ. Hoang mang, vì cộng đoàn dân Chúa đã kinh qua nhiều thử thách. Hãi sợ, vì Người Do thái vẫn dè chừng, dòm ngó, chẳng để yên. Hoang mang và rất sợ, còn vì người ngoài cuộc chẳng tin là Thầy mình đã sống lại.

Bàn về niềm tin và niềm yêu của người dân đi Đạo, trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh đến sự hiện diện và quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh. Đức Chúa Phục Sinh nay ở giữa chúng ta, những kẻ cứng tin như thánh Tôma. Và từ lúc đó, việc tin Chúa Phục sinh đã phổ biến rất nhanh, như lời kể trong sách Công Vụ: “Càng ngày có nhiều người tin theo Chúa, cả đàn ông đàn bà rất đông” (CV 5: 12b)

Về niềm tin của cộng đoàn dân Chúa tuy có hãi sợ, lúc ban đầu: “Nơi các môn đồ ở, các cửa đều đóng kín.” (Ga 20: 19). Nhưng với lời chúc phúc của Thầy Chí thánh đã sống, niềm hãi sợ giờ này đã tan đi:  “Bình an cho anh em” (Ga 20: 27).

Với chúc phúc của Đức Chúa, thánh Tôma và dân con nhà Đạo từ nay đã trở về với cung lòng yêu thương của Đức Chúa. Về với niềm tin đích thực, không đổi thay. Được Chúa Nhân Hiền chúc phúc, loài người từ nay được Chúa ờ cùng. Ở với đàn con nay đã có niềm tin và niềm yêu, không đổi thay. Với niềm tin –yêu không còn thay đổi, thánh tông đồ nay đã mở mắt để nhận ra Thầy mình đích thực là Đức Chúa, Đấng Thiên Sai do Cha gửi đến: “Lạy Chúa  con! Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20: 29). Thành thử, lòng cứng tin của thánh Tô ma tông đồ cũng là cơ hội để Chúa Cha chúc phúc cho mọi người. Đứng đầu là thánh nhân.

Qua tuyên xưng của thánh nhân tông đồ, con dân nhà Đạo nay không còn cứng tin nữa. Nhưng, nhận ra Thiên tính của Thầy Chí Thánh, Đấng Nhân Hiền. Và, đây còn là thông điệp đậm nét mà thánh sử Gio-an, người môn đệ “được Chúa thương yêu”, muốn bày tỏ. Thuật lại niềm tin yêu và hãi sợ của Tô-Ma tông đồ, thánh Gio-an cũng minh chứng: đây không đơn thuần chỉ là cuộc xum họp gia đình môn đệ của Đức Chúa, mà thôi.

Nhưng, đây còn là thông điệp mang xác chứng của một lệnh truyền: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20: 21). Là Đức Chúa sống lại, nay Thầy sai anh em ra đi để rao truyền niềm yêu và niềm tin “không còn thay đổi” đến với mọi người. Với lệnh truyền của Đức Chúa Phục sinh được chứng xác, đồ đệ kẻ tin nay được đảm bảo có Thánh Thần Chúa ở cùng. Rồi từ đó, các vị được quyền thứ tha lỗi lầm của anh em cùng niềm yêu và tin, nhưng chưa tha thứ.

Quyền uy tha thứ mọi lỗi phạm của anh em, không chỉ là quyền hòa giải giữa các người anh em với nhau, nhưng còn là một giảng hòa sâu đậm giữa con người với Đức Chúa, nữa. Với lệnh truyền hòa giải, nay  dân con nhà Đạo sẽ trở nên một. Một người con có Cha Chung là Đức Chúa, đã sống lại. Một cộng đoàn gồm những người có niềm yêu và niềm tin. Những người con yêu được ở trong Chúa. Và với Chúa.

Xem như thế, xác định về niềm yêu và tin của mọi dân con Đức Chúa, từ nay được “viết trên giấy có kẻ giòng”, “không đổi thay”. Từ nay, mọi con dân nhà Đạo sẽ không còn cứng tin như Tôma tông đồ, vào dạo trước. Và từ nay, các Tô-ma đương đại sẽ không còn hoang mang, hãi sợ. Vì được Đấng Nhân Hiền Chí Thánh chúc phúc: “Bình an cho anh em!” .

Các Tôma thời đương đại, chung cuộc rồi ra cũng nhận biết được dung mạo của Thầy Nhân Hiền đã sống lại, nơi người anh, người chị của mình tại các xóm nghèo thành thị. Và, những người em còn ở chốn nhân gian đầy kinh sợ. Sợ nghèo, sợ đói. Sợ cả dân gian chưa có được niềm tin. Sợ đến độ chẳng còn biết “tin” vào ai. Nói gì đến niềm yêu “không đổi thay”.    

Và nếu con dân nhà Đạo vẫn còn những đồ đệ chưa xác tín, vẫn hãi sợ mông lung, thì này đây thêm một khẳng định, nơi trình thuật: “Những điều được chép ở đây, là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Và, để nhờ tin mà được sống nhờ danh Nguời.” Nói cho cùng, mấu chốt cơ bản của Đạo Chúa không là gì khác ngoài những TIN và YÊU. Một niềm yêu và niềm tin không đổi thay. Và các niềm ấy, không chỉ “viết trên giấy có kẻ giòng”, thôi. Mà, còn được ghi tạc nơi phần sâu thẳm của tâm can mỗi người. Nơi mọi người.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao niềm tin của ta vẫn mãi trong sáng. Không hãi sợ. Không sợ cả người ngoài hay kẻ xấu.

Cầu và mong sao, khi được Chúa chúc bình an và sai đi loan truyền niềm yêu không đổi thay, ta sẽ vững tin hơn, mà lên đường. Vững tin, để rồi với lời chúc phúc bình an của Đức Chúa, ta sẽ nhận ra Ngài nơi mọi người, người trong Đạo cũng như ở ngoài.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn
Mai Tá lược dịch.