Monday, 8 July 2019

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 15 thường niên năm C 14/7/2019

Lc 10: 25-37 Một hôm, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?" Ông ấy thưa: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình." Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống."

Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?" Đức Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.33 Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác." Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? " Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy." Đức Giê-su bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,”
“đốt thương yêu, than nóng hực ân tình.”
(dẫn từ thơ Du Tử Lê)

Ân tình hực nóng, đã trở thành lửa ân tình đà thấy rõ nơi các nhân vật ở trình thuật, hôm nay. Trình thuật hôm nay, thánh Luca kể về ân-tình lành thánh của người ngoài đã đối-xử với dân con trong Đạo, vẫn chưa quên. Đọc trình thuật, người đọc thấy rõ cung cách người ngoài Đạo tận tình chăm sóc kẻ bị nạn, bất kể họ thuộc nhóm/bè nào, vẫn có nhu-cầu cơ bản để sống còn. 

Nhu cầu kẻ bị nạn, vẫn thường lệ-thuộc vào sự chăm sóc của người khác cả về: thời gian, năng lượng và tài-nguyên của người giùm giúp. Sự chăm sóc, xuất từ người ngoài Đạo dồi dào, vượt trội, theo cách riêng tây, chứng tỏ quan hệ tốt giữa kẻ cho và người nhận, thật đặc trưng. Và “người cho” hôm nay, không cân đai/áo mão nên chẳng ai rõ lý lịch của người ấy đến thế nào.

Chỉ biết: nhu-cầu căn bản để sống còn, là điều mà đa số nữ-phụ ở đời cần nhiều hơn nam giới. Bởi, nữ-giới ở đời phải sinh con đẻ cái, rồi tạo thức ăn dinh-dưỡng cho trẻ bé, cả đến nơi ở, quần áo, tình cảm lẫn mối quan hệ xã giao, vẫn là nhu cầu bức thiết để giữ mọi người ở lại với mình. Bậc nữ-lưu trong xã-hội, luôn có nhu-cầu của cuộc sống hằng ngày; thế nên, mẫu-mã quan-hệ giữa người cho và người nhận là đặc-thù của hai người, ở đây là: mẹ-con. 

Tân Ước, nhấn mạnh nhiều về lòng mến trải dàn nơi mọi người, trong ngoài nhà Đạo. Tân Ước còn tỏ cho thấy tính phổ-cập nơi lửa ngọn thương yêu/chăm sóc giữa dân con đồ đệ của Chúa, nữa. Tuy là thế, tính phổ-cập của lòng mến diễn tả vào tình huống rất căng, luôn ganh đua/tị nạnh với “tương-quan chăm sóc” như vừa nói. Tương-quan chăm sóc, cũng mang tính phổ-cập cả bên ngoài vũ trụ, chứ không chỉ là cá nhân riêng lẻ, của một ai. Tính phổ-cập kiến-tạo sự đồng đều cho những ai cần chăm sóc, bất kể họ có khác biệt về tôn giáo, sắc tộc hoặc văn hoá, như trình thuật viện dẫn. Tính-chất ấy, đòi mọi người phải biết quan tâm đến kẻ bị nạn, bất kể kẻ ấy, người nọ có đòi hỏi, kêu cầu gì nơi người “qua đường” hay không. 

Tường trình về “lòng mến” có sự chăm sóc trong vũ trụ lại cũng đáp ứng tính hấp-dẫn đặc biệt của một số người gọi đó là ích-kỷ hoặc ham-mê quá độ, thấy khá nhiều. “Lòng mến” vẫn vượt trội quan-hệ tư riêng, cục bộ; từ đó đi đến kết quả, là: nếu ta để tâm đến nhu cầu vật chất tư riêng, theo cách tập trung, ắt hẳn ta sẽ tạo sức ép linh-thiêng, nên tồi tệ. 

Đôi lúc, cũng nên tạo ấn tượng để người người hiểu rằng tương-quan chăm sóc đặc biệt, là kết quả do ta chọn. Nhờ đó, ta trở thành người tốt lành, mang chất Kitô nhiều hơn, khi có khả năng vinh-thăng mọi việc. Và, trở thành “người có lòng với vũ trụ” nhiều hơn, mà không cần ứng đáp với người được chăm-sóc, nhất là khi đối xử với họ một cách ngang bằng, đồng đều.

Thật cũng dễ, để nói rằng: động thái yêu thương mang tính-chất toàn cầu, trong khi con người lại cứ hành-xử theo cách riêng tư, cục bộ. Khi đã yêu thương rồi, ta lại sẽ đạt trạng huống đến với nhiều người có nhu cầu nhiều hơn ta. Trong khi đó, ta lại không thể làm cả hai việc cùng một lúc và không thể chăm sóc nhiều người cho đồng đều, được. Chính vì thế, văn hoá của ta xem ra cũng khác với động thái phòng-ngừa tệ hại xảy đến với mọi người và động thái đầu tư năng lượng nơi người khác, nữa. 

Thông thường, ta vẫn muốn phòng ngừa mọi tệ hại đem đến cho người khác. Nhưng, qua tư cách cá-thể, ta không tài nào làm được việc ấy, nên mới chuyển qua hệ thống rộng lớn hơn, dù hệ thống ấy không tránh được tình huống thiếu phẩm chất. Thành ra, ta có tự do đeo đuổi các chọn lựa tư riêng –dù chọn lựa ấy mang tính chuyên quyền, độc đoán- mỗi khi ta đầu tư năng lượng của riêng mình nơi những người do ta chọn lựa. Nói cách khác, là nói như người xưa: “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Bởi thế nên, những người được ta thương yêu /săn sóc sẽ trở thành bạn bè người thân, cũng rất gần. Và, thông thường thì: những người do ta chọn để giúp đỡ, lại không liên can gì đến ta, mà chỉ như người lạ, và có khi còn trở thành kẻ thù vì hãi sợ ta, nữa. 

Ở đây, còn thấy có giòng lịch sử về tình bạn mà, với xã hội, tình này đà đổi thay khá nhiều. Vào thời trước, tình bạn xuất từ những người cùng quá trình lý lịch hoặc ở chòm xóm, chung một sở làm. Những người như thế, thường giúp đỡ nhau và trở thành bạn bè không theo nghĩa lựa chọn riêng tư do sự kiện cùng sinh ra từ một nhóm, chứ không phải từ người ngoài. 

Trong sống đời bình thường ở xã hội, ta luôn có nhu cầu vật chất, ngang qua thương-trường nội bộ. Và, nhờ chính sách an toàn của quốc gia mình sinh sống, ta vẫn được bảo vệ, rất an toàn. Thế giới ta sống hôm nay, có hằng hà sa số những loại chăm sóc đặc trưng và có cả những người không được thế, nên mới tìm đến các chăm sóc thấp hèn từ cơ sở tìm việc làm. Những người này thường bị bóc lột nhiều thứ, như: lương quá thấp hoặc điều kiện làm việc không tương xứng với khả năng, cơ chế xã hội không được công nhận. Phần đông những người như thế chỉ là các “chị giúp” hoặc “người ở”, cần chút thu nhập để còn sống.

Người Samaritanô hiền từ, chẳng bao giờ đặt vấn đề lý thuyết như thế. Ông chỉ dừng chân đứng lại để tương-tác với những người đang ở trước mặt ông, lại có nhu-cầu rất bức-thiết. Đôi khi, mọi người đều thấy khó trở thành người Samaritanô hiền-từ rất toàn thời. Càng khó hơn, khi phải tra tay chăm sóc giúp đỡ khá nhiều cùng một lúc. Vì thế, cũng có nhiều vấn đề khác liên quan đến quan-hệ giữa kẻ chăm sóc và người nhận. 

Theo định nghĩa, vẫn thấy có tương-quan không đồng đều giữa hai loại người này. Với người được săn sóc, thì vấn đề là sự tin tưởng. Còn, với người kia, đó lại là tương-quan hiểu biết và khả năng làm được gì cho người. Điều cần làm, là: cốt sao xứng-hợp với tự do của người nhận. Tự do đây, không mang ý nghĩa của “tự túc, tự lực”, tức: được coi như lệ thuộc nhau, trong kết đoàn. Tương-quan đây, không có nghĩa như tương quan giữa quyền bính và uy-lực. Trong đó, có chức năng mới của những lo toan dựa trên quan-hệ bình thường và loại hình mới về tình bạn, giữa hai người.

Xã hội hiện nay, người người trở nên thận-trọng lo-lắng chứ không xả thân lo toan cho người khác. Bởi ngày nay, người người dựng xây nhiều dịch-vụ “lo” cho sức khoẻ của mình, nên đã phòng ngừa nhiều thứ. Ngày nay, người ta sống chường mặt với hiểm nguy đủ loại, nên chú trọng nhiều đến những tiêu cực hơn sống tích-cực. Có làm gì, thì rồi ra ta cũng đều sẽ chết tại bệnh viện; và nhiều người rồi cũng chết sau khi được săn sóc đủ điều nhằm làm nhẹ bớt nỗi đau triền miên. Nhưng họ quên rằng: trong sống đời thực tế, mình cũng từng tự chăm sóc cho mình, y như thế. Con người ngày nay lại quá thận trọng, phòng ngừa và âu lo cho nỗi đau đến phải sống cuộc sống đang từ từ xảy đến. 

Vậy nên, vấn đề hỏi rằng: ta sống để làm gì? Con người được dựng ra là để sống cho tình bằng hữu; và, cộng đồng nhân loại được dựng xây là để tỏ lòng mến, hiếu khách, đỡ đần nhau, mới đúng.

Thế giới ngày nay, những người bị coi là tật nguyền/khiếm khuyết vẫn có ơn “gọi” đặc biệt. Ơn gọi của người khuyết tật quyết đem Tin Mừng đến với những người được coi là độc-lập, khoẻ mạnh và thành đạt. Người khuyết tật, luôn giúp người lành mạnh để người lành và thấy được rằng: là người, tức mình sẽ bị hạn chế, dễ gãy và luôn có nhu cầu bức thiết. Thế nên, ta chỉ là ta, khi ta có quan hệ tương-tác với những người đang cần ta đến giúp đỡ. Giúp, mà không coi đó như dấu hiệu của yếu kém, lận đận mà vì nhân loại được tạo dựng vẫn cần đến “cứu rỗi”. Ai ai cũng dễ bị gãy đổ, mỗi người một cách. Ta được gọi, là để nhận ra điều đó. Ta được gọi, còn để lướt thắng nó mà mừng sự kiện: tất cả đều cùng một Thân Mình Đức Kitô, mà thôi.

Người bị gãy đổ, sẽ càng thấy rõ mình có ơn “gọi” đặc biệt hơn. Có nhiều loại gãy đổ được thấy rõ ràng, đặc trưng hơn. Như trường hợp của người khiếm-thị, chẳng hạn, nội sự kiện họ bị mù hoặc sắp thành mù-loà lại cũng giống như máy hút bụi to lớn đang đi vào cuộc sống sẽ hút tất cả mọi sự đi nơi khác. 

Từ đó, sẽ tạo khủng hoảng về lý lịch. Bởi, lý lịch con người đều đặt căn bản trên việc gom gộp mọi thứ, chứ không tẩy trừ tất cả, ra hư không. Niềm tin cũng thế, phải mang tính đại-kết theo nghĩa chữ và phải bao gộp mọi người, chứ không chỉ những người cùng bộ tộc mình thôi, rồi đẩy lùi những người khác mình. Ta phải vượt trội tính khác biệt, để rồi sẽ liên kết mọi người lại với nhau. Điều này, nên hiểu cho đúng cách hơn, nhất thứ là khi ta đối xử với người có khuyết tật về tâm trí; và cả những người có khó khăn về ngôn ngữ, cũng thế.

Trở lại vấn đề: nếu không thể yêu thương và chăm sóc hết mọi người, thì ta làm cho ai đây? Tác giả người Pháp nọ có đề cập đến những người mà ông gọi là “người nghèo được chọn lựa”. Cuối cùng, rồi ra ta cũng đi đến đoạn kết cục là: chăm lo cho người nghèo và người có nhu cầu do ta chọn. Họ là những người do ta đã chọn; nên, mới tỏ bày tình bằng-hữu với họ và mới chọn cùng sống với họ và giống như họ trong Thân mình của Chúa. Có như thế, ta mới nhận được quà tặng trở thành Kitô-khác đối với người nghèo khó. Giả như ta có quyền và có thể chấm dứt hệ thống giai cấp, đặc quyền tồn đọng nơi thế giới phàm trần, thì chắc hẳn ta cũng sẽ đổi mới được nhiều thứ, nhiều sự.

Kitô-hữu thời tiên khởi, cũng đã chăm sóc cho người nghèo hèn, côi cút, các bà goá và những người bị cầm cố, thấp hèn. Làm thế, không có nghĩa là các ngài ném tiền vào các chương trình này/khác để giúp người nghèo. Nhưng thực sự, các ngài đã biết lo toan cho người nghèo, trên thực tế. Đây là yếu tố khiến người La Mã dựa vào đó mà phân định ai là Kitô-hữu, ai không, bằng vào sự thể là: những người như thế biết chăm lo cho người khác nhiều hơn thế. Chí ít, là người nghèo đói, có nhu cầu hơn chính mình.   

            Trong cảm nghiệm sự cần thiết lo toan giúp đỡ mọi người, ta cũng nên ngâm lại lời thơ trên, rằng:

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,”
“đốt thương yêu, than nóng hực ân tình.” (Du Tử Lê – Hiến Chương Yêu)
            Chăm lo cho mọi người, nơi Đạo Chúa, lại trở thành “Hiến Chương” yêu thương vẫn sáng tỏ trong đời người. Một đời, có Đức Chúa làm mẫu mực, để ta theo.  

                          Lm Kevin O’Shea, CSsR – Mai Tá lược dịch  

Friday, 5 July 2019

“Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 14 thường niên năm C 01/7/2019

Lc 10 : 1-12, 17-20

Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Ngài bảo các ông:

“Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông." Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần." Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó."

“Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp,”
“là áo người trắng cả giấc ngủ mê.”
(dẫn từ thơ Đỗ Trung Quân)

Giấc ngủ mê, đưa nhà thơ ra ngoài cửa lớp. Giấc mộng dài, dẫn người nhà Đạo về với lời Chúa dạy để nhớ mà đi vào hiện thực.

Trình thuật, nay thánh Luca lại cũng kể về Lời Chúa dạy con dân Ngài hãy ra đi rao truyền Nước Trời đến mọi thôn làng gần xa, trên thế giới. Nhưng, thế giới nay đổi thay cũng khá nhiều trong lịch sử. Thế nên, công cuộc mục vụ của thánh Hội từ đó cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

Lịch sử Đạo, khởi đầu nơi thế giới, với đế quốc La Mã khá mạnh. Mạnh đến độ, người trong đó đều tham gia góp phần vào nghi thức thánh thiêng của họ. Ai không theo qui định họ đề ra, đều chịu xử phạt khiến phải tử đạo. Và từ đó, niềm tin đi Đạo lại nhanh chóng tràn vào đế quốc La Mã cả ở trời Tây lẫn phía Đông, khắp mọi chốn.

Được như thế, một phần là nhờ vào phương tiện cầu đường do đế quốc lập. Sau thời bách hại, dân con Đạo Chúa lại cũng nhờ có Constantine thiết lập khung trời mới với nhiều thứ, nên việc rao truyền niềm tin xuyên suốt châu Âu đã đạt nhịp điệu đáng kể. Chính vì thế, chức sắc trong Đạo lại trở thành giống như giới chức của Đế quốc, tức: cũng thi hành quyền-lực hệt như họ. Và từ đó, việc rao truyền Đạo Chúa với thế giới, đã xuất hiện tự bên trong.

Thời đầu, dân con/quần thần ở đế quốc tiếp tục hành đạo theo kiểu cũ, dù ít người theo, nhưng vẫn là thứ tôn giáo không niềm tin chẳng có tầm nhìn hoặc thị kiến linh đạo. Tôn giáo của đế quốc cũng nhanh chóng mai một. Và, đám “rợ” các nơi mới có dịp xâm nhập toàn cõi châu này. Dù ra thế, Hội thánh vẫn đủ sức tồn tại và trở thành chiếc cầu nối giữa quá khứ và tương lai. Hội thánh vẫn giúp dân con mọi người tạo thành khối đoàn-kết để sau đó, thành một Âu châu đầy quyền-thế. Và Hội thánh cứ thế tồn tại đến ngàn năm, khả dĩ bảo tồn được nền văn hoá quá khứ và trao lại cho chúng dân điều tốt đẹp nhất trong đời.
Tuy nhiên, Hội thánh rồi cũng suy sụp, để sau này, phải nhường đất cho một Âu Châu đang trong vị-thế phát triển mạnh mẽ. Ngay đầu thế kỷ 16, đã thấy chủ-thuyết “Thệ Phản” nhanh chóng chiếm-lĩnh nhiều thị trấn ở châu này. Trong khi đó, thay vì đối thoại, Công đồng Triđentinô lại chọn thái-độ kình chống họ. Nên, mới xảy đến “chiến tranh tôn giáo”; và từ đó, dẫn đến khủng hoảng nơi Kitô-giáo, cho cả nhóm Thệ Phản lẫn Công Giáo. Và, các nhà trí-thức lại cũng xác tín rằng: tôn giáo là chất kích-tác tạo cuộc chiến đến độ không sao tái tạo được nền hoà bình rất công chính. Và sự việc cứ thế rời xa cuộc sống của công chúng, để rồi lấn dần vào địa hạt cá nhân, riêng lẻ.

Và, đã đến lúc toàn cõi châu Âu nay trên đà đi xuống. Sau đó, lại thấy xuất hiện thời hiện-đại tân-kỳ bằng những phát minh mới. Giấc mơ mới. Cách mạng mới. Nhất nhất mọi sự đều nhân danh tự do, giàu có quyết đem đến cho cuộc sống của mọi người. Và, cũng từ đó, lại thấy xuất hiện một số quốc gia khá “hiện đại” khiến Hội thánh phẫn uất, bất-ưng và chối bỏ khiến đem lại kết quả thảm hại cho cả Hội thánh lẫn thế trần. Ngay khi đó, trần-thế bên ngoài đã tạo được kiến thức mới, kỹ thuật mới và cả lối sống rất mới nữa. 

Về thần học, Hội thánh khi ấy cũng có thái-độ thủ thế, tức: chỉ lặp lại và bình-luận các văn-bản cổ xưa, rồi phản-bác những gì xảy đến với thế giới “hiện đại”. Hội thánh lúc ấy chỉ muốn dân con mình trở thành đồng-dạng cả trong phụng vụ, ngôn từ thần học lẫn công cuộc đào tạo linh mục/tu sĩ với tiêu chuẩn cao nhất. Tựa hồ thực-dân-ông chễm chệ một cõi, Hội thánh những muốn chuyển-tải duy một truyền-thống của mình cho toàn thể địa-cầu, chẳng lý gì đến văn-hoá địa phương, qua mặt cả tầng-lớp giáo-dân của mình, vẫn cứ “cầm cân nảy mực”, chỉ mình “tôi”.   
             
Kịp đến khi xảy ra cách mạng Pháp, Hội thánh đã để mất giai-cấp ở trên cao. Mất cả giai cấp lao-động khi xuất hiện cuộc cách-mạng kỹ-nghệ nữa. Và, khi mọi người tìm cách đổ dồn về thành phố để sinh nhai, Hội thánh đã bị bỏ lại đằng sau với đám hầu cận, dân dã cấp nông gia. Trên thực tế, ở thế kỷ 18 và 19, phần lớn đám dân-cư còn tin tưởng vào truyền-thống Công-giáo rất dễ bảo, đã trở thành đám người quê-mùa, dại dột. Trong khi đó, loại hình xã-hội mới gọi là “thế-hệ hiện-đại” lại đã trồi lên mặt thế giới mới.

Từ đó, nền-tảng chính-trị, xã-hội và trí-thức từng phục vụ nhu-cầu cơ bản của con người khiến Hội thánh có được hoạt-động thiêng-liêng sủng-ái cả ngàn năm, nay không còn nữa. Tầm nhìn nhân-loại và thế-giới từng phục vụ niềm tin thời đầu đang dần dà biến dạng. Vào thế kỷ thứ 20, Hội thánh đã ngưng-trệ nhiều và dần dà lùi vào dĩ vãng. Muốn thực hiện công cuộc truyền giáo vãi gieo Tin Mừng cho mọi người, Hội thánh buộc phải tái-tạo kho bãi, mặt bằng cho riêng mình. Trước Công Đồng Vaticăng 2, Hội thánh với tư cách là thể-chế, không học-hỏi được gì nhiều để có thể sống không cần đến quyền-thế đến nghìn năm.

Thời Công Đồng Vatican 2, Hội thánh đã khám-phá ra sự-thể là: mình có thể thực-thi sứ-vụ Chúa giao phó trong khiêm hạ và khó nghèo, tốt hơn cả thời vinh quang, quyền thế. Và khám phá ra rằng: giáo-dân cũng có trọng trách rao truyền Tin Mừng của Chúa, chứ không chỉ các chức-sắc/phẩm trật nơi Giáo triều, thôi. Thông thường, giáo dân thực-hiện công-cuộc truyền giáo qua sống thực niềm tin tại nơi mình trú-ngụ. Cơ-chế Hội thánh có mặt ở đó, là để hỗ-trợ cho họ, chứ không chỉ mỗi Hội thánh mình mới có quyền làm thế.

Ít năm sau Công Đồng, chừng như mọi sự thành gãy nát, vỡ đổ. Trong nội bộ Hội thánh, lại xảy ra một thời rất lạ. Lúc ấy, toàn bộ công cuộc tiến-hoá đều bị nhóm hội/cộng đoàn quan trọng trong Hội thánh lẫn giáo triều cật vấn. Ở cuộc sống bên ngoài, Hội thánh lại trở thành một lực lượng sống ngoài rìa xã-hội. Tự bản thân mình, Hội thánh không thể kể cho con dân nhà Đạo biết phải làm gì để sống tu đức và cũng không còn khả năng hướng-dẫn thế giới bên ngoài con đường mình tiến bước. 

Chức sắc Hội thánh từng ban hành nhiều tài-liệu hay/đẹp nhưng chẳng ai đọc. Sứ-giả Hội thánh được tôn kính, nhưng chẳng ai biết gì về sứ điệp. Có vị còn cho rằng: Công Đồng Vatican 2 phạm phải sai lầm, nên mới có phong trào tái-tục tinh thần của Công Đồng để mọi người sống cho sinh động, phải phép. Từ đó, các vị quyết canh-tân cả những gì đã được đổi mới, nhất thứ về phụng vụ.

Hội thánh, nay không nhận thức được những gì đã và đang xảy đến với xã hội. Và, Hội thánh cũng không thấy được cơn khủng-hoảng mà xã hội phương Tây đang gặp phải. Đồng thời, Hội thánh tiếp tục tìm cách có mặt với cả hai loại-hình thế-giới nay không còn hiện hữu, tức: xã hội kinh-điển cũng như hiện-đại đều đã biến dạng. Đây là cách mạng văn hoá vĩ-đại đã nổ-bùng chỉ hai, ba năm sau thời Công Đồng. Nổ bùng đến độ nhiều vị còn không biết là đã có Công Đồng Vaticăng 2 nữa. 

Chuyện này gây ảnh hưỏng lên mọi tôn giáo và xã-hội. Ngày nay, ta gọi thời kỳ này là thời hậu-hiện-đại, hoặc tân-hiện-đại. Hiện-đại, đến độ chẳng ai tin vào thứ gì hoặc chẳng ai thích những chuyện đầy ý-nghĩa về cuộc sống; cũng chẳng chấp-nhận bất cứ thể-chế trần gian hay đạo giáo nào, hết. Nói cách khác, chẳng ai tin tưởng vào đường lối thực tiễn để thể hiện công cuộc truyền giáo nữa. Nói tóm lại, thời kỳ này là thời lầm lạc, trầm thống rất đáng tiếc.

Nay, lại thấy xảy ra giai-đoạn mới gọi là hậu-trần-tục, tức: thời kỳ cùng xảy ra với đạo-giáo và thế-trần. Mặt bằng cuộc sống của công chúng nay trở nên rộng lớn hơn cả tư tưởng hiện đại cũng như hậu-hiện-đại. Tuy mang tính phàm trần, nhưng thời đại này lại song hành mở ra một triển-khai hài-hoà đối với niềm tin cũng như tôn giáo. Nói cách khác, nay là thời của chủ-thuyết đa-nguyên khá hoà-hoãn đang song-hành tiến bước với thế trần, nhưng lại sâu sắc đối với đời sống có niềm tin. Tuy nhiên, nay cũng lại thấy có cuộc phục-hồi cảm-kích về tôn giáo với tính chất trần-tục khá nới rộng.

Cuộc sống dân-dã ngoài đời, đã nối kết một cách lạ lùng với tôn giáo. Tôn-giáo không chỉ hiện diện ở bên ngoài để đấu-tranh cho quyền-lợi của những người bị áp-bức, thua thiệt hoặc đối xử bất công, mà thôi. Nay, lại đã thấy một chuyển mình để bảo toàn, cổ vũ nét đặc-trưng căn-bản của mỗi người trong văn hoá, tôn giáo hoặc nhóm hội mình tuỳ thuộc. Đặc-trưng căn bản này, còn sâu sắc hơn bất cứ cuộc sống dân dã, xã hội khả dĩ tạo cho mọi người đến độ, không có nó, mọi người sẽ nghèo nàn, bất lực. Tôn giáo, nay đang ở “trong” vì có thể nói với và nói về hiện trạng này.

Tôn giáo cũng “ở trong”, nhưng không như nghi thức hoặc sự việc sùng kính này khác từ địa hạt nào hết. Tôn giáo “ở trong”, là bởi tôn-giáo có thể đeo mang niềm-tin đích-thực. Và, không có niềm tin này, cuộc sống trần-tục cũng chẳng thể nào sống sốt được nữa. 

Thành thử, như lời Chúa từng căn-dặn: hãy ra đi thực hiện cuộc truyền giáo dễ như khoác áo vào người rồi dấn bước ra đi hướng về thôn-làng cận bên, để cảm-nghiệm tình Chúa thương ta một cách rộng rãi. Làm thế, trong bối cảnh truyền-thống Hội thánh vẫn tìm cách khám phá ra phương-thế để thực thi Lời Chúa dặn. Nói khác đi, đó chính là loan truyền niềm tin vào Đức Kitô; và, đó mới diễn tả niềm tin vào chính mình cho những người mà mình mới quen biết, hoặc mới gặp.     
             
Có vị hỏi: nếu thế thì, đâu là định-luật truyền giáo ngày hôm nay? Câu trả lời, là: vẫn như trước; tức: vẫn “ở trong” và “ở với” nền văn hoá mình sống cùng và sống với, vào bất cứ giai đoạn nào trong đời để rồi biến con người của mình thành Tin Mừng, ở nơi đó.
Cảm nghiệm được tinh thần đó, ta hãy cùng nhau ngâm lên lời ca vang đầy những thơ, rằng:

            “Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp,
            Là áo người trắng cả giấc ngủ mê.”  
             (Đỗ Trung Quân – Chút Tình Đầu)   
     
            Tình đầu hay tình cuối, còn là chút tình thực hiện lời dặn của Chúa quyết ra đi rao truyền Tin Mừng rộng rãi cho mọi người. Ở mọi nơi.  

Lm Kevin O’Shea, CSsR –
Mai Tá lược dịch
______________________________________________________________________________________

Wednesday, 26 June 2019

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết,”


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 13 thường niên năm C 30/6/2019
Lc 9: 51-62
Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem. Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Người đến. Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem. Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?" Nhưng Đức Giê-su quay lại quở mắng các ông. Rồi Thầy trò đi sang làng khác.

Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."

Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã." Đức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."

Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã." Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết,”
“Khi say sưa với lượn sóng triền miên.”
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Mửa ra huyết, là bệnh tình của nhà thơ khi lượn sóng. Ói thần hồn, là tâm trạng người bệnh được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, thánh Luca diễn tả tình huống người trừ quỉ nọ không thuộc nhóm đồ đệ của Chúa, nên thành chuyện. Thành câu chuyện, là do đồ đệ Chúa nêu ra để ta suy tư, ngẫm nghĩ. Câu chuyện, rút từ sách Dân Số kể về nhân vật Elđađ và Mêđađ không được nhận là ngôn sứ vì không thuộc nhóm tiên tri dù hai ông đã được Thần Khí đến với mình khi nói “ở trong trại”. Và khi ấy, Môsê được yêu cầu không cho hai ông làm thế, nhưng Môsê không nghe lại cứ cầu khẩn Thần Khí đến với người Do thái cho họ nói về Đạo.

Từ đó, có người đặt vấn đề chức năng thừa-tác ở trong Đạo. Bởi, người trong Đạo luôn đặt vấn đề khuôn phép chính thống, khi có người không cùng phe/nhóm của mình lại cả gan thi thố tài năng, sẽ bị hỏi về tính ủy-nhiệm hoặc bài sai qua giấy giới thiệu, bằng cấp, học vị khiến có địa vị chính đáng. Nhà Đạo ta, coi đó như tiêu chuẩn để xác-chứng phẩm-chất và khả năng của vị ấy. 

Ở đời thường, chủ nghĩa bè/phái là động thái quyết bảo vệ quyền lợi của phe/nhóm mình. Sống trong xã hội đặt nặng chuyện tiêu-thụ, ta gặp chính mình nơi thị-trường người mua. Ta thấy tự tin hơn trong số những người công-khai hỗ-trợ mình, và nghi ngờ người ở ngoài phe/ngoài nhóm. Ta sống bằng lý-lẽ an-ninh/an-toàn và hệ-thống giai-cấp, rồi dùng đó làm rào-cản gây trở-ngại chống lại những gì thanh thoát, tự phát sinh. Chính Môsê khi xưa cũng từng kết án những người than vãn về hai ông Elđađ và Mêđađ vì ghen tuông. Và có lẽ, ông cũng than phiền cả chúng ta nữa.

Điều lạ là: chuyện như thế lại cũng thấy cả ở Tin Mừng nữa. Chính Đức Giêsu là người ngoài cuộc, Ngài không thuộc phe/phái nào và Ngài cũng chẳng xuất thân từ giai-cấp, trường lớp nào hết, cả đến trường/phái Sanhêdrin, cũng không. Mọi người đều biết Ngài đã sinh hạ trong chuồng bò và đã chết trên thập tự. Khi Phục sinh/trỗi dậy, Ngài đã hiện đến trước nhất với nữ phụ mang tên Maria Magđala, chứ đâu là Simôn Phêrô hoặc nhóm 12, đồ đệ Ngài. Ngay thánh Phêrô cũng được mời đến nhà người La Mã ngoài Đạo là ông Cornêliô chứ đâu là người Do thái, có thế lực. 

Và thánh-nhân lại là người khám phá ra ông Cornêliô được Thần Khí đáp xuống trên mình ông, nên đã chấp-nhận thanh tẩy cho ông, là người đầu tiên ngoài Do-thái. Thánh Phaolô là người được gặp Chúa trên đường đi Đamát, trong khi trước đó ông từng thuộc nhóm/bè chuyên “phá hoại” hoạt-động của Chúa, tức: có thể cũng trở thành kẻ sát-hại tín-hữu Chúa. Và sự thực, thì không có thánh Phaolô, ta cũng chẳng là người Công-giáo chính-hiệu. Dù, khi chọn người thay thế Giuđa Iscariốt nhóm đồ đệ của Chúa lại chọn Mátthias, là người chẳng ai biết. 

Tóm lại, Thần Khí của Đức Chúa cao cả và cởi mở, là ý tưởng mà thánh Luca muốn giới thiệu với người đọc Tin Mừng hôm nay.

Thế thì, có phải Ngài là Thần Khí hiện diện trong thể chế Giáo hội không? Vâng. Chính thế. Nhưng, như thế không có nghĩa: Giáo hội đầy thể-chế lại có quyền hướng-dẫn/trực-chỉ Thần Khí hoặc giới hạn Thần Khí chỉ được có mặt ở một số băng-tần hoạt-động vì lợi-ích của người khác, thôi. Giáo hội không thể kiểm-soát Thần Khí. Giáo hội có mặt là để nhận-thức và chứng-thực hoạt-động tự-do của Thần Khí mà tín-hữu vẫn làm chứng, có thế thôi.

Trình-thuật về sự kiện tương-tự, thánh-sử Máccô lại để Chúa gói gọn ý-nghĩa của truyện kể, khi Ngài nói: 

“Ai không chống ta, là ở cùng ta.”
Về lập trường này, có người lại lật ngược câu nói của Chúa, khi họ bảo:

“Ai không theo ta, tức chống lại ta.” 

Hai câu khác hẳn nhau. Câu Chúa nói, phản-ánh tính mở rộng con người mình, tức chứng-tỏ: Tín-hữu Đạo Chúa là người không chủ-trương biên-giới; trong khi đó, câu nói sau, là niềm hãi sợ, tức: tạo biên giới để không có quá nhiều tín hữu Chúa.

Trình-thuật, nay còn đưa thêm vấn đề mới, như: chuyện “thuộc về ai”. Khi xưa, có thời-kỳ ta cứ nghĩ: là người Công giáo, tức là ta thuộc về Hội thánh Công giáo, chỉ mỗi thế. Có lẽ, ngày nay, nhiều người Công giáo chuyên chăm đi nhà thờ lại sở-hữu thêm nhiều thứ rút từ đạo khác chứ không chỉ mỗi Đạo Chúa thôi, chí ít là cung-cách tâm-trí và linh-đạo.  Nói cách khác, ngày nay ta đi vào thời-đại gồm nhiều thứ “thuộc về ai”, chứ không chỉ duy nhất một loại hình nào đó thôi.

Hiểu như thế, sẽ nảy sinh thêm vấn đề bảo rằng: có thể, ta cũng thuộc về thế giới ngoài đời hệt như ta từng thuộc về truyền-thống thể-chế, tôn giáo hoặc đạo nào đó. Nói như thế, không có nghĩa bảo là: ta đang bỏ đạo của mình để ôm cầm tính trần-thế, rất như thế. Như thế, cũng chẳng để bảo rằng: hãy để Hội thánh kiểm xem ta mang tính trần-tục đến độ nào. Nhưng, chỉ muốn nói lên sự kiện là: ta đang sống mỗi ngày và mọi ngày ở trần-thế, có thế thôi. Trần-thế, mang ý-nghĩa bao quát, cởi mở. Cởi mở rồi, sẽ bao gộp mọi truyền-thống cũng như sinh-hoạt của đạo-giáo và thánh Hội. 

Như thế, là ta đang cùng một lúc “thuộc về” những thứ thường ngày và các đặc-trưng/đặc-thù, thấy rất rõ. Bởi, muốn nối-kết cho chính đáng, hẳn ta cần kết-nối với mọi nhóm-hội/đoàn-thể có đặc trưng, cũng khác biệt. Mang tính linh-đạo mà không nối-kết chuyện thường ngày, là ý nghĩ kỳ quặc. Chuyện thường ngày mà ta để mất một vài nối-kết linh-đạo là mất mát một số sự việc rất thực tiễn.

Trình thuật, nay lại dấy lên vấn-đề khác hỏi rằng: ta thấy mình thế nào? Ta bắt đầu ra sao khi hỏi mình “thuộc về ai”? Ta có thấy mình thuộc về “thực-tại trần-thế”, rất ở ngoài không? Và, ta có thấy những người thuộc nhóm-hội/đạo-giáo nay theo tinh-thần như thế ấy không? Ta có nghĩ mình là người “Công-giáo gốc/đạo ròng” với đặc-trưng là mình thuộc về thế-giới riêng-tư giống thế, không? Ta có là người của thế-kỷ thứ 21 cũng Công-giáo hoặc là người Công-giáo sống ở thế-kỷ 21 không?

Chừng như, nay vẫn còn thấy một số người Công giáo lại nghĩ về mình như Công giáo “chánh hiệu” nhưng đã tráo-đổi chốn-miền mình thuộc về phe/nhóm chính-yếu đang sống đặc-trưng thực-tiễn ở ngoài. Họ vẫn sống theo đường lối Chúa dạy. Nhưng, lại ít liên-hệ với giáo-hội công-khai, thuộc bên trong. Tên gọi của người đó, cũng vẫn là Elđađ và Mêđađ, như thuở trước. Gọi họ là nhóm người gì, cũng còn tùy; nhưng, họ vẫn được Thần Khí đáp xuống trên người mình, thế mới lạ!

Và bên dưới, lại thấy có vấn đề khác cùng nảy sinh, là tư-thế “bất bạo-động”. Phần đông trong ta, đều kình chống chiến tranh những chém và giết. Ta kình-chống cả động-thái hung-hăng trong quan-hệ mật-thiết với mọi người. 

Và chừng như, trong tâm can, ta vẫn muốn một học-thuyết về cuộc chiến “chính đáng”, để rồi ta rút về đó mỗi khi cần. Cuối cùng, cũng trở về với động-thái khá bạo-động dù có ý-định thường tình, xuất sắc. Lại có nhiều người trong ta chẳng bao giờ thấy được nhượng-bộ giữa lý-tưởng bất-bạo-động của Kitô-giáo với các giáo-hội đang nối-kết với đế-quốc và/hoặc đất nước chủ-trương bạo-động theo cách-thế nào đó.

Và khi đối đầu/đối xử với kẻ nghèo/người hèn hoặc thiếu thốn, đôi lúc ta lại có động-thái nào đó cũng bạo-động qua việc chối-từ chẳng giúp ai. Bạo-động nơi ta, không do tính hung-hăng xác-thể, cho bằng mau chóng tẩy-trừ người nghèo-hèn túng-thiếu ra khỏi khu-vực sống của nhóm mình. Hoặc, nếu có bỏ họ ở đó một ít lâu cũng để được coi là đã làm việc “bố thí” tinh-thần, như thế khác nào bạo-lực/bạo-động.

Cởi mở/bất-bạo-động đối với người nghèo, là chọn họ làm của riêng cho mình. Và, nhận ra diện-mạo của Đức Chúa Phục sinh, ở nơi họ. Chọn họ, như đền thờ Chúa ngự, có Chúa hiện diện một cách sinh-động, vào mọi lúc. Hiểu như thế, thì cụm từ “bất-bạo-động” xem ra vẫn còn thiếu sót. Sống bằng động-thái giống như thế, là giấc mộng kinh-thánh vẫn dành-để cho con dân mọi người, không chỉ mỗi người Công giáo, mà thôi. 

Bởi, giấc mộng ấy đã thành-hình nơi Đức Kitô và Nước Trời của Ngài. Bởi, chính Ngài cũng muốn sự thể như thế được thể-hiện ở nơi ta. Và, có như thế, kẻ nghèo/người hèn hoặc túng-thiếu sẽ không là người mà ta cho là nghèo/hèn lại do chính Chúa chọn ta để làm thế.

Làm như thế, phải chăng là nối-kết chính-đáng ở Đạo Chúa? Làm như thế, chỉ khi nào ta thấy Chúa nơi người nghèo/hèn ta chọn làm đấng bậc mang Chúa đến cho ta/với ta, mà thôi.


Cảm nghiệm lý lẽ thực tế ấy, ta hãy cùng hát lên lời thơ đau của nhà thơ nghèo, từng hát rằng:    
      

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết,”
Khi say sưa với lượn sóng triền miên
Khi nhận lấy trong thân tâm cay nghiệt
Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.”
(Hàn Mặc Tử - Biển Hồn Ta)

Niềm riêng, nay đâu còn “giọng hờn đau” chợt thấy trong “thân tâm cay nghiệt”. Mà, chỉ là tâm trạng say sưa lượn sóng triền miên, bất-bạo-động. Triền miên tìm kiếm Chúa nơi “Biển hồn” người  trong sáng, đà thấy Chúa nơi mọi người. Nhất thứ, là nơi kẻ nghèo/người hèn ở đây, lúc này.  

            Lm Kevin O’Shea, CSsR – Mai Tá lược dịch
______________________________________________________________________________________