Friday, 9 November 2012

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,”

Suy niệm Lời Ngài vào Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên Năm B 18.11.2012

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,”
“Hạnh phúc trần gian đang lăn từ khoé mắt.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)
Mc 13: 24-32
Giòng xanh ấy, hôm nay đang tàn phá chốn dân gian, vẫn ngủ vùi.
Đó, là lời thánh Máccô nay nhắn nhủ ở trình thuật về cảnh tình trời đất rất nhũng loạn. Bởi, vẫn cứ tranh giành tiền bạc cùng quyền lực, nên thiên hạ hành hạ nhau, tàn phá/chém giết nhau rồi cùng nhau đi đến chỗ tự diệt. Dân con ở đời, người người đang ở vào tình huống có cuộc sống vỡ đổ về văn hoá cả Đạo lẫn đời muốn cất bỏ mọi hỗn loạn khỏi đời mình. Là con dân Chúa, ta có thể và có bổn phận nói lên tiếng nói của mình để sửa sai thoát cơn tệ hại ngày thế tận. Nhưng, không kiểm soát được hỗn loạn ở chốn phồn hoa bát nháo, do hệ thống văn hoá, xã hội và chính trị mạnh hơn mình.
Tin Mừng chương 13, thánh Máccô không tạo cảnh hỗn loạn sánh tày vào ngày tận thế. Thánh sử chỉ trích dẫn những gì người xưa tưởng tuợng hoặc nắm chắc, thôi. Thánh nhân còn muốn nhắn nhủ dân con người đọc hãy để tâm vào lời dạy của Chúa, rồi nghe tiếp câu nói ở đoạn sau: Chớ ưu tư/muộn phiền nhưng đề cao/cảnh giác quyết sống thực lời Chúa, vì người người chẳng rõ tương lai mai ngày, mình ra sao. Hãy sống hiện tại, thế cũng đủ.
Thánh Máccô không là nhà thần học cánh chung, mà chỉ là đấng thánh khôn ngoan, biết sống thực tế ở đất phàm, mà thôi. Thế nên, thay vì lập đi lập lại cảnh thế tận, có lẽ ta nên để tâm nhiều đến môi trường địa cầu, để thấy rằng: càng ngày ta càng thấy rối rắm, trục trặc xảy đến nhiều hơn mình suy đoán. Vì vậy, hãy nhất quyết làm điều gì đó, cho cánh chung. Chứ không chỉ sống đời hiện sinh thực tiễn. Đây, là lập trường nhằm cập-nhật-hoá chuyện cánh chung lẫn tư tưởng được thánh sử nói từ trước.
Cập-nhật-hoá tư tưởng, có 9 sự việc cần bảo nhau, là: tính đa dạng sinh thái, hay thay đổi khí hậu, ngập tràn chất nitrôgen, cách sử dụng đất, cạn nguồn nước uống, độc chất uế tạp, dùng bình phun xịt không hạn chế, axít đổ vào biển vô trách nhiệm, tầng ô-zôn bị khuyết/thủng, vv…
Tính đa dạng của sinh thái, vẫn thấy dẫy đầy nơi đất trời. Một số loài, nay trên đường tuyệt chủng. So với tình hình vào độ 40 năm trước, thì nay có đến một phần ba loài thú đã biến mất. Một phần tư động-vật có vú và một phần ba động-vật lưỡng-cư cũng như một phần tư tôm cá nước ngọt cùng 15% chim muông trên trời đang bị hoạ tuyệt chủng, cũng rất chóng. 65 triệu năm nay, đây là thời điểm nguy hiểm nhất trong đó nhiều loài đang bị đe doạ biến mất dạng, rất khủng khiếp. Thời đại trước cách mạng kỹ nghệ, mỗi năm chỉ thấy có một phần triệu thú loài bị hoạ tuyệt chủng. Nay, thì con số ấy gia tăng gấp bội lên đến trăm lần. Và, theo sự tính toán của các chuyên gia, có đến cả nghìn thú loài như thế đang biến mất, mỗi một năm. Sinh thái địa cầu nay lại bị đe doạ rất trầm trọng.
Khí hậu đổi thay nay thấy rõ. Không chỉ loài người mà tất cả mọi loài lâu nay chung sống đề huề/an vui trong bầu khí quyển có khí trong lành cùng thở, nhưng nay: sức khoẻ của mọi loài cũng như chất lượng của sự sống, nay được cân đo đong đếm tính bằng số lượng thành phần trên cả triệu các-bon điôxýt bốc lên trời. Vào khi bắt đầu cuộc cách mạng kỹ nghệ, tỷ số thán khí ở bầu khí quyển là 280 phần trên một triệu các-bon điốxýt, nay đếm thấy nó lên 390 thành phần trong một triệu chất các-bpn điôxít. Hậu quả tiếp theo sau, là lớp băng tảng ở Bắc Cực đã nhanh chóng vữa chảy khiến nước biển cứ thế dâng cao. Khắp địa cầu, nay lại thấy nhiệt độ hâm nóng quả đất rất gia tăng. Lượng tuyết rơi ngày một ít, trong khi đó mực độ mưa dầm lại đã ở mức trầm kha, rất báo động.
Tệ hại hơn nữa, lại là tình trạng đất trồng trọt nay nứt nẻ/khô đanh, sông ngòi đà cạn nước, rừng xanh nay khô héo, nạn cháy rừng lại cứ bốc đồng tự phát. Các dấu hiệu của tình trạng hiểm nghèo rày tăng nhanh vượt mọi ước đoán, so sánh. Nếu đà này tiếp tục, e rằng chẳng mấy chốc các tảng băng Bắc Cực cũng sẽ tan vữa; và mưa nguồn nhiệt đới cũng bị vạ lây.
Trong khi đó, chất nitrôgen từ phân-bón hoá-học lại đã xâm nhập sông ngòi, ao hồ và biển cả, đã khoanh vùng chết chóc dành để cho sinh vật chịu đựng đến tận tuyệt.
Sử dụng đất miền đặc trưng đáng lẽ không được phép tùy tiện cho mục đích nào khác ngoài ý hướng phù hợp với thiên nhiên, đất trời. Chốn miền tạm dung cũng như mưa mùa nhiệt đới tạo thực phẩm nuôi sống mọi loài, nay bị con người khai thác gỗ để kinh doanh khiến cây xanh đành chịu cảnh nhà giàu bức tử, chẳng cần nghĩ đến ai.
Nguồn nước trong xanh ờ sông ngòi, ao hồ, miền đất ướt vốn từng là nguồn sống cho phần tư động vật có xương sống hiện diện khắp thế giới, cũng bị cạn. Xưa nay, lằn ranh giới hạn sử dụng nước được chú trọng rất cẩn thận, nay thì hầu như con người chẳng còn biết quan tâm đến cảnh báo là mình sắp sửa vượt lằn ranh khẩn trương ấy.
Chất độc phế thải tựa như thuốc DDT, bao ny lông, nhựa dẻo, vv. nay tràn lan đây đó khiến tôm cá cùng chim muông nuốt vào rồi đi dần đến cõi chết, hết thấy thiên đường. Cả đến thú đàn ở dưới đất cùng loài chim trên trời cũng bị đủ mọi loại hoá chất giết chết dần mòn, hết chữa chạy.
Bình xịt phun đựng khí CFC cùng khói đen thải từ các lò kỹ nghệ dơ bẩn ở nước nghèo thuộc thế giới thứ ba kéo về xâm nhập đá băng Bắc Cực khiến tuyết trắng khi xưa nay trở thành xam xám đen bẩn chẳng còn kỹ năng phản ánh nắng ấm về nơi tăm tối, cần tia ánh hạnh phúc.
Nay thì, 85% biển sâu hầu như bị axít-hoá nhiễm đầy chất thải từ các nhà máy, vẫn cứ dồn về biển xanh, nay hết xanh. Kết cuộc, biển cả mênh mông chuyên hấp thụ dưỡng khí nay đã nghẹn thở ngày một trầm trọng, khiến biển không còn khả năng nuôi dưỡng mọi sinh vật ở vùng biển, nữa. Thay vào đó, là chế độ axít-hoá đậm đặc ngày một gia tăng đến 30% so với dạo trước. Điều đó, cứ đe doạ mãi vùng biển san hô và mọi loài cá, tôm, điệp, mực từng là nguồn thực phẩm nuôi dưỡng mọi loài chim chóc cùng loài người này cạn biến. Cuối cùng, bầu khí quyển chứa đựng ôxy cho mọi loài hít thở lại cũng dần dà đặc sậm những là thán khí.
Lớp khí CFC đã và đang chọc thủng tầng ô-dôn cần thiết cho con người lại để cho tia cực tím tự tiện xâm nhập vùng hít thở của mọi loài khiến tình trạng sống của sinh vật trở nên tồi tệ đến mức báo động. Thế đó, là cảnh báo không khác lời thánh sử nhắc ở Tin Mừng. Thế đó, còn có vấn đề: chúng dân nay có để tai nghe lời thánh hiền đề cao cảnh giác, nữa hay không? Và như thế, sự tàn tạ ngày cánh chung, một lần nữa, lại cũng sắp đến?
Cuối cùng, sử gia nhà Đạo mình có nên viết lại chương 13 Tin Mừng thay cho thánh sử Máccô thời đại chăng? Và, người người có nên tự chế việc sử dụng hoá chất độc hại mà thực hiện cuộc sống khắc kỷ/khổ hạnh thêm lần nữa? Có nên mở cuộc tranh luận so sánh nhu cầu của môi trường và kinh tế không? Phải chăng, kinh tế thế giới rồi ra sẽ thắng cuộc? Và, người người có cần giáp mặt/đụng trận với các dấu chỉ thời đại để làm chậm bớt tiến trình hủ hoá vũ trụ, rất đáng sợ?
Hỏi thế rồi, lại cũng nên trở về với thực tại thi ca hầu ngâm lên câu thơ thực tế, vẫn còn đó:

            “Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,
            Hạnh phúc trần gian đang lăn từ khoé mắt…
            Tình đã đến trong những ngày độc dược,
            trong những ngày rữa nát mọi tinh hoa,
            trong những ngày sự sống diễn ra,
            bằng điên dại dẫm bừa lên sự sống!
Nhìn nhau đi em, để thấy tình nhu thuận,
Bản năng sinh tồn sát ranh giới tử, sinh..”
(Nguyễn Tất Nhiên – Nước Trở Về Lành Lặn)

Ranh giới tử sinh, nay gần kề. Chỉ chờ anh và chờ em, ta quyết định trở về với Nước. Nước lành lặn, cũng là Nước của mọi người cần sống có Chúa, có mọi người cùng tồn tại, rất vinh quang.
                             
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh  
Mai Tá luợc dịch

Saturday, 27 October 2012

“Anh bâng khuâng, nghe Lời Tình réo gọi,”



Suy niệm Lời Ngài vào Chúa Nhật thứ 31 Thường Niên Năm B 4.11.2012

“Anh bâng khuâng, nghe Lời Tình réo gọi,”
“Xoáy buồng tim, giọng hờn ngập không ghian.”
(Dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)
Mc 112: 28-34
            Tình réo gọi hôm  nay, là cuộc tình Chúa vẫn rong ruổi, ở Nước Trời. Tình Chúa rong ruổi, để người người thực hiện thứ Tình Ngài trông ngóng dân con mọi người rày đáp trả.   
Trình thuật thánh Máccô, nay tiếp tục bàn về các thắc mắc của bạn đạo xin Chúa lời dạy hầu thi hành luật Do thái, rất Torah. Luật Torah, ghi nhiều điều rất chi tiết khó mà nhớ hết, nên bạn đạo nọ vẫn hỏi: “Điều nào cao trọng nhất trong các giới lệnh của Đạo?” Để đáp trả, Chúa tóm gọn bằng lời khuyên răn để đời: “Là, yêu Chúa và thương người”.
Yêu Chúa và thương người, giải phóng ta và đảm bảo cho ta một đời nhẹ êm, phúc hạnh, nhiều hy vọng. Lại nữa, khi suy tư chuyện này, giới lệnh của Chúa đã bảo đảm cho cả hiện tại lẫn tương lai mai ngày, chứ không chỉ là hy vọng thôi. Nhận thức như thế, thì chuyện Chúa dạy hôm, không ai có thể cưỡng chống được. Đó là điều, mà tôn giáo nào cũng coi đó như phương án giải phóng/cứu độ dựng xây trên nền tảng thương yêu. Thương yêu Chúa, là Đấng muốn ta làm thế, suốt mọi ngày. Trong đời.
Yêu thương Chúa, bắt đầu bằng việc “lắng tai nghe”, hệt như cụm từ “Shema” bên tiếng A-ram,  từng diễn tả. Tức là động thái mở tai và mở cả lòng mình ra mà nhận thức. Đây, là câu đầu của giới lệnh được ban hành trước tiên. Có lắng tai nghe Lời Chúa dạy, người người mới có thể đi vào quan hệ mật thiết với Chúa. Xem Chúa nói điều gì, để ta nghe theo. Và, ta có đáp trả theo cung cách rất riêng của mỗi người, không? Và, yêu thương Chúa, là yêu cầu đòi ta phải thực thi vào mọi lúc. Cả những lúc, Thiên Chúa là Tình Yêu đã đi bước trước để yêu ta. 
Yêu thương Chúa, là chọn lựa vốn có tự đáy lòng, vẫn thôi thúc ta có được ước ao những điều cao cả, ta chưa từng làm. Tức, biết yêu và đương yêu hết mọi người. Thông thường, ta vẫn chọn người tốt đẹp và đáng yêu nhất là chính Chúa, để làm trước. Yêu thương Chúa, còn là vào với tình bằng hữu Chúa dành để cho ta, và mọi người.
Nói cách khác, yêu thương Chúa không có nghĩa cứ bỏ cả đời ra mà “kiếm tìm” Chúa khắp nơi. Cho bằng, cứ để Chúa tìm đến với mình như gương mẫu cho mọi người bắt chước. Sự thật thì, trước khi ta đi tìm Ngài để yêu thương Ngài, thì chính Ngài đã quan tâm tìm đến ta và Ngài sẽ làm thế mãi muôn đời. Ta chẳng cần tìm, mà chỉ cần cảm tạ Chúa là hơn cả. Và cách hay nhất, cuối cùng là hết lòng cảm tạ vì Ngài vẫn thương ta, dù ta đã không làm thế.
Yêu thương Chúa, là thương yêu hết mọi người. Cả người cận lân, lẫn kẻ xa lạ. Yêu thương như thế, sẽ đưa ta vào với thứ tự của lòng bác ái, rất thưong yêu. Đưa ta vào hệ cấp/phẩm trật của mọi thứ rất đáng thương, ở đời người. Yêu thương như thế, tức biết đặt thứ tự trên/ dưới, trước/sau cho các loại tình mà mình đương yêu. Yêu thương Chúa, là yêu bằng tình yêu đặt trên mọi danh sách, mọi thứ tình, ở đời. Là, đi thẳng vào trọng tâm của mọi sự, để rồi ta sẽ thong dong không còn ưu tư/lo lắng về mọi chi tiết lề luật. Thong dong, cả với Lề Luật, rất Torah nữa.
Ở đây, đó lại là điều lạ kỳ, rất lớn lao. Lạ và kỳ, là ở chỗ: giới luật Yêu Thương Chúa, không chỉ là luật yêu thương người đồng loại trước nhất. Mà là, yêu thương chính mình trước đã, rồi mới thương yêu người đồng loại. Bởi, thương yêu chính mình, là ví dụ cụ thể. Là, chứng minh rằng mình có khả năng yêu thương người nào khác hơn là chỉ mỗi mình. Là, yêu bất cứ ai. Đó, chính là ý nghĩa của lời dạy: hãy yêu thương người khác, như thương yêu chính mình. Sự thật thì, ta chẳng thể yêu ai khác, nếu không thương mình trước đã. Cũng, không thể thương yêu họ theo kiểu Chúa thương ta.
Theo thiển ý, yêu thương Chúa là biết lắng nghe và đối thoại bằng tình bạn. Lắng tai nghe, để còn biết tình Chúa thương ta, không là tình ích kỷ hoặc thứ tình của Narcis “chỉ biết mỗi mình”. Đó, là tình bạn mà Đức Chúa, Đấng đã bỏ cả thời gian vĩnh hằng để thương ta. Để làm ta vui. Điều này, như có nói ở trình thuật, là thứ trò chơi khác hẳn luật lệ, hoặc nghi lễ tế tự, cầu nguyện.
Chúa thấy người bạn ở trình thuật nhận ra được thông điệp Ngài chuyển cho anh, nên Ngài bảo: “Anh không xa Vương Quốc Nước Trời là mấy!” điều này cũng giống như Lời Ngài còn nói với tay tội đồ bên thập giá: “Hôm nay anh sẽ cùng tôi về nơi Thiên Quốc.”
Yêu thương Chúa. Thương yêu chính mình, còn là yêu tất cả bạn bè người thân rất gần cận. Đây, còn là bài sai Chúa đưa ra. Là, giới lệnh mà đôi lúc ta thấy ngại khi yêu cầu mọi người yêu thương nhau như họ từng thương yêu chính họ. Nói như thế, là bởi ta không chắc họ có yêu chính họ rất nhiều, hay không.
Ở đời, nhiều người vẫn cứ tìm cách không yêu thương chính mình, sợ rằng thứ tình yêu ấy chỉ có với người lành thánh, mà thôi. Thật ra, không phải thế. Hãy yêu thương chính mình trước đã, rồi ra mình cũng sẽ nhận thức rằng: Chúa rất yêu ta. Và, Chúa sẽ cùng ta thương yêu những người gần cận, rất nhân loại.
Nhiều người nay lại dấy lên một thứ luật lệ về “trút sạch” để trói mình vào với yêu cầu biến mình nên “trống rỗng”, tức trở thành thứ “sắc sắc/không không”, hư vô, vô bổ. Thật ra, ta đã cảm kích thứ tình rất hay này rồi. Nhưng, mỗi khi ta ra đi mặc lấy cho mình cách này thì cuộc sống dần dà rất ít theo kiểu “trút sạch” hoặc “trống rỗng/hư vô”. Làm thế tức là ta đã khám phá ra rằng: nơi ta, đã có rất nhiều điều/nhiều thứ, mình không biết. Điều ấy, thứ ấy coó thể là: Chúa vẫn yêu ta. Ta và Chúa cũng đang yêu thương hết mọi người, rất đương yêu.
Rất nhiều người, lại vẫn cảm kích/khích động về bí nhiệm của Chúa. Nhưng, huyền nhiệm nơi Ngài là sự thể cho thấy: tất cả những gì Chúa sở hữu, đều là và chỉ là chuyện Ngài đương yêu ta và ta được bao gộp vào với đối tượng của Tình Ngài với ta, và thế giới. Bên dưới tất cả những chuyển nhượng tình của ta đối với mình, và tình mình với mọi người, đó là Thiên Chúa, Đấng thuộc về ta rất vô hạn định trong bản-thể-rất-thánh mà Ngài ban cho ta.
Thương yêu chính mình, là cứ để như thế, vì Chúa. Cứ để Chúa yêu ta, rồi ra ta sẽ đạt mọi chuyện. Đôi khi, ta lại nghĩ: đó là giới lệnh trước nhất rất cao cả, so với mọi giới lệnh. Hiểu được thế rồi, ta sẽ vượt thắng mọi tranh cãi/biện luận về tính cách tự-hy-sinh hoặc tự-phát để trở thành sự thể đời mình. Tất cả không là gì khác, ngoài chuyện đó. Đó, là điều ta sở hữu nhiều hơn chuyện tự bằng lòng về những gì là tầm thường. Và, đó cũng là sự thể để ta lướt vượt mọi bận tâm có thể có khi cái chết đến gần với ta. Lướt vượt cả mọi cấm đoán, huý kỵ và hạn chế trong đời người.
Trong tâm tình cảm thông sự việc cần biết và cần hiểu, cũng nên ngâm tiếp lời ca trong bài thơ rất mộng ở trên, rằng:

            “ Anh bâng khuân nghe lời tình réo gọi,
            Xoáy buồng tim, giọng hờn ngập không gian.
            Âm mơ hồ vọng tự cõi xa xăm,
            Tiếng réo gọi trả mình thời hoa mộng.”
            (Nguyễn Tâm Hàn – Âm Vọng)

Âm vọng của nhà thơ vẫn lờ mờ, nhưng vẫn thích. Âm vọng của bạn đạo từng hỏi, là vọng âm của tình tiết lặng câm, vẫn nằm trong lòng, nay xuất thành lời. Lời hỏi han. Lời vàng Chúa dạy, rất tình tiết.
                          
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh –
Mai Tá phỏng dịch

Saturday, 13 October 2012

“Ô hay nhỉ, một thoáng mộng ngỡ mang thân Từ Thức,”



Suy niệm Lời Ngài vào Chúa Nhật thứ 29 Thường Niên Năm B 21.10.2012

“Ô hay nhỉ, một thoáng mộng ngỡ mang thân Từ Thức,”
“Mảnh hình hài dâng tặng trái tim tiên.”
(dẫn từ thơ Nguyễn Tâm Hàn)
Mc 10: 35-45
Mộng của anh, những mang thân Từ Thức. Mộng của người, lại muốn gần bên Chúa với bên người, nên quyết định. Quyết và định, như các thánh đã làm ở trình thuật, rất hôm nay.
Trình thuật hôm nay, thánh sử Máccô lại viết về thái độ rất “con trẻ” của tông đồ Chúa. Thái độ đây, là động thái bon chen, kèn cựa đòi chỗ cao. Nhưng, Chúa quyết phản bác thái độ ấy mà bảo: ai muốn làm đồ đệ đích thực, phải chấp nhận phận hèn tôi tớ. Như kẻ thấp hèn, bị bỏ bê như trẻ bé, tức: những người bị bóc lột, dày vò, hay thụ động.
Trình thuật thánh sử kể, nay được hiểu và nên hiểu như cung cách tháp nhập tầm kích thụ động lại cũng năng động, đi vào cuộc sống chân phương, rất đích thực. Lời Chúa, nay mời gọi mọi người hãy sống chân thật như trẻ bé”, để phục vụ mỗi người và mọi người. Có như thế, mới có thể hoạt động phục vụ Chúa nơi con người để phát triển cuộc đời.
Động lực khiến ta nên “trẻ bé/thấp hèn” hàm ngụ nhu cầu quân bình hoá đặc trưng khiêm hạ, tức: lối sống thấp hèn, với tính cao sang/trọng vọng, tức: có tâm hồn cao cả, rất lớn. Lời mời đây, lại mang ý nghĩa rất phải lẽ cứ đòi ta xử sự như người cao sang, trọng vọng. Bởi, như Chúa bảo: Ai muốn nên cao trọng, phải biết phục vụ, như trẻ bé!” Và, ai muốn nên trẻ bé, phải sống sao cho cao trọng.
Thành ra, khó mà nên “trẻ bé” sống hài hoà, trọn hảo. Toàn thiện. Lời Chúa mời, thoạt nhìn ra như nghịch ngạo, kình chống, cũng kích động. Nhưng, trình thuật hôm nay không muốn kêu gọi mọi người sống khiêm nhu theo kiểu dân con phục vụ và như trẻ bé. Lời Ngài mời gọi, không chỉ gửi đến bất cứ ai, ở nơi nào. Đúng hơn, lời mời gửi đến ta là mời ta sống sao cho có thể phát triển khả năng riêng tư đến cao độ. Phát triển rồi, lại sẽ sử dụng năng khiếu mình được tặng để phục vụ đúng cách mỗi người và mọi người. Đặc biệt, là người nghèo hèn, đang cần khả năng ấy, thấy cũng nhiều.
Vấn đề là, làm sao để có thể tháp đặt đặc trưng “khiêm hạ” vào với tính cao trọng, thật cũng khó. Điều thú vị, là: cụm từ “khiêm hạ” đối với mọi người, nghe vẫn dễ hơn cụm từ “cao sang/quyền thể”, rất là thế. Ngay buổi đầu, khiêm hạ ra như đặc tính rất “khắc kỷ” lâu nay vẫn được gán cho các thầy dòng  khổ tu sống đời đan viện, tức những vị những muốn xa rời đời sống tục trần để thự thi Tin Mừng Chúa nhủ khuyên. Xét tính cách xã hội và chính trị, đây là chuyện khá ư vô dụng, chẳng bổ ích.
Đúng ra, đó là thái độ “bê tha/la cà” hơn đặc trưng/đặc thù đáng ta trân trọng theo nhãn giới hiện đại, trần tục. Khiêm hạ, là trạng huống tâm linh rất thấp bé, hèn mọn. Khiêm hạ, là trạng thái tâm tình dễ tác hại cả những người chủ trương sống như thế. Phần đông tu sĩ dòng khắc kỷ/khổ tu hay viết những chữ “luận thuyết/quyết tâm” nơi thang giá trị hoặc “khiêm tốn” để thực hành. Với văn chương thi tứ chốn dân gian, thì khiêm nhu/’khiêm hạ chả có gì khiến giảm hạ phẩm giá của mình hết. Chẳng cần biết, ta và mình có tìm sống khiêm hạ đến mức độ nào đi nữa, vẫn còn đó nghị lực tâm linh để vời đến.
Cảm tạ Chúa, là ta vẫn nhận được ân lộc nhiều hơn thế. Bởi, người cũng như ta đều là những người cần thứ gì đó để dung hoà. Giả như ta có bị cuốn hút vào tình huống tư riêng, lọc lựa cho thích hợp để thăng tiến lên chốn cao sang/vị vọng, thì ta và người vẫn cần đến sự khiêm hạ đích thực khả dĩ giúp mình mở ngỏ lòng vơí khung trời rộng mở, mà phát triển. Bởi, như mọi người đều đã biết, tính cao trọng thực sự là tính chất rất “nhân chi sơ”, hơn cả đặc trưng khiêm tốn. Khiêm hạ/từ tốn, vốn chỉ là “bố thắng” hãm tốc lực cho người tìm đến những gì là cao sang, trọng vọng. Thế nên, đừng tưởng rằng “nhân chi sơ tính khiêm hạ”, sau đó thiên hạ và xã hội mới bổ sung cho vài ân lộc để thích nghi với tình huống đa dạng, để sống.
Khiêm hạ, ngay từ đầu vẫn giúp ta hướng về Chúa. Khiêm hạn, tự bản chất, là thái độ cũng rất Đạo. Bởi, so sánh với Chúa, ta chắc chắn chỉ là người con nhỏ bé, rất thấp hèn. Khiêm hạ, nhắc ta nhớ rằng: tất cả mọi sự tốt đẹp trong ta đều từ Chúa, chứ không phải do ta, hoặc bởi ta mà có. Nó tập trung nhấn mạnh, rằng: mọi sự tốt đẹp trong ta, là do Chúa. Nhận định theo cách đó, nó sẽ đưa ta vào đúng vị trí vẫn có và phải có trong vũ trụ vạn vật. Nó song hành, chứ không kình chống lại sự cao trọng.
Nếu có quyết tâm sống khiêm hạ suốt cuộc đời, thì tự khắc sẽ đạt tính cao sang/vị vọng, ở muôn nơi. Tiếng Hy Lạp khi xưa gọi đó bằng từ “megalopsychia” tức tâm thần cao cả và to tát. To tát, ở chỗ: nó vực dậy và dưỡng nuôi hy vọng, rộng khắp. Nếu tính khiêm hạ cho ta biết về Chúa Cao Cả hơn tất cả, thì tính cao sang vị vọng lại diễn nghĩa cho ta hiểu rằng ta không là thành phần cao cả của giống người; bởi, ta vẫn có chút gì đó để góp phần vào sự cao cả của vũ trụ/vạn vật mà không loài nào làm được.
Trình thuật hôm nay, thánh Máccô mô tả cho ta thấy toàn bộ sự sống và ý nghĩa của Đức Giêsu, rất tốt đẹp. Trình thuật đẹp, ta có được là ở bản 70 bằng tiếng Hy Lạp. Ở đó, thánh Máccô kể lại sự kiện Chúa có nói: Ngài đến với thế gian không phải được được mọi người phục vụ, mà là phục vụ mọi người. Và, thánh sử Máccô còn viết thêm rằng: Ngài đem chính mình ra mà làm chứng với dân con là đám “vô danh tiểu tốt”, vốn bị rơi rớt chốn lãng quên.
Diễn tả sự cao trọng đáng quý trọng nhất ở thời đại ta đang sống vốn được đặc trưng “khiêm hạ” khiến dịu êm, là tư tưởng đến từ Đông Âu. Người bất đồng đã vùng dậy từ nội bộ nhóm Sô Viết, của thời trước. Họ là những người đã cả gan dám chứng tỏ đặc trưng ngôn sứ để yêu cầu con người hãy biết tỏ ra mình là người biết sống cho phải lẽ cho con người; đặc biệt là những người từng bị chính quyền Sô viết thời đó áp chế tiếng nói của họ. Trong khi đó, tiếng nói của họ lại được lắng nghe ở nhiều nơi khác, rất cảm thông. Tiếng nói đó, còn là lập trường kiên quyết của các vị bất đồng chính kiến như Havel, Sakarov, Solzhenitsyn , vv.
Theo cách này, ta tìm ra được sự quân bình mà đôi lúc không thấy có nơi người viết; chẳng hạn như, sự việc tự biến mình thành “thùng rỗng”, rất trống vắng. Sự thể này, còn thấy được ở một số truyền thống Kitô-hữu vốn dĩ từng muốn làm sáng tỏ sắc thái của những lỗi và tội. Điều này, còn thấy rõ ở một số nhóm hội thuộc giáo phái Thệ Phản (đặc biệt là nhóm hội mang tên Luther) và một số nhóm hội khác thuộc Giáo Hội Đông Phương, và dĩ nhiên cũng lại thấy một số mạch chính trong Đạo Chúa.
Điều này, cũng đã thấy ở một số triết thuyết và thần học tu đức vốn dĩ không tiến triển là do bản thân mình không dám vượt thắng thói quen, rất cố hữu. Tựa hồ như những người lại thích mùa Thu hơn mùa Đông và mùa Xuân, lẫn mùa Hạ, vì tính chất thi ca, mộng tưởng. Tính chất, rất ở ẩn trong bóng tối đen hiểu biết về Chúa, nên đã thấy thách đố nhiều trong tính chất thập giá, nơi mọi sự.
Đổi lại, có lẽ cũng nên nghĩ suy thêm về tính tích cực và /triệt để về mọi sự. Những sự như: Thiên Chúa là Đấng tạo dựng hết mọi loài, mọi người trong trời đất là để mọi người, mọi loài có quan hệ đẹp với Chúa, và đó không là sự trống rỗng, vô bổ. Ta cũng nên biết những điều đó, mà cảm kích để rồi sẽ không chối bỏ việc Chúa thực hiện những sự tốt đẹp cho ta. Vâng! Lịch sử và xã hội từng gây tổn hại nhiều cho “trẻ bé”, ngay từ gốc. Tuy nhiên, tổn hại ngay từ gốc không là sự hủy hoại tận gốc rễ, để triệt hạ. Nói tóm lại, trình thuật nay được thánh sử Máccô tập trung nhấn mạnh một điều, là: chính Đức Giêsu đã và đang yêu cầu mọi người trở nên như “trẻ bé” là theo nghĩa đơn giản như thế đó.
Xem như thế, các chủ đề về quan điểm “trở nên kẻ bé nhỏ” thánh sử đưa ra suốt những tuần qua, là để ta suy tư về tư cách “trẻ bé” theo nghĩa;
·         bất xứng hợp thấy rõ
·         vượt quá hoang tưởng
·         cung cách bổ sung
·         bước đi theo Chúa
·         trở nên trẻ bé rất cao cả
Thế nghĩa là, “trở nên trẻ bé” sẽ không có nghĩa: chống đối nền thần học của thập giá, mà là: nhìn vào thập tự đích thực của con người chứ không phải tưởng tượng, mà thôi.           
Trong tâm tình đó, tưởng cũng nên ngâm thêm lời thơ còn dang dở, ở trên mà rằng:

“Ô hay nhỉ! một thoáng mộng… ngỡ mang thân Từ Thức,
Mảnh hình hài, dâng tặng trái tim tiên.
Xa trần gian… xa vắng hết ưu phiền,
Giấc mơ tình tan vỡ, anh chao đảo giữa giòng đời …bỡ ngỡ.
Hồn mơ màng tìm lối mộng Thiên Thai.”
(Nguyễn Tâm Hàn – Này Em)

“Giấc mơ tình tan vỡ”. “Chao đảo giữa giòng đời”. Tất cả, vẫn chỉ vì người đời quên mất Lời của Chúa vẫn cứ dặn: hãy nên “trẻ bé” mới mong “ xa vắng hết ưu phiền”. Và, cũng chẳng “mang thân Từ Thức”, rất truân chuyên.
                    
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh –
Mai Tá phỏng dịch