Saturday, 8 May 2010

“Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa.”


Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà.
Buồn ở sông xanh nghe đã lại,
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.”

(thơ Xuân Diệu)


Lc 24: 46-53


Dáng thu xa, mây lặng vào trưa. Mưa tạnh. Chiều tà. Vẫn cứ là cảnh huống, của tình đời. Nhiều mây trôi. Tình nhà Đạo từ hôm ấy đến nay, vẫn không là cảnh tình người ở lại. Có gió thầm. Mây lặng lẽ. Nhìn Thầy ra đi. Thầy đi, Thầy sẽ gửi Thần Khí Chúa đến với mọi người. Dù ngoài Đạo. Như trình thuật rày vẫn kể, để ta hay biết.


Trình thuật hôm nay, thánh Luca diễn trình hai sự kiện thoạt xem có hơi khác lạ. Khá nghịch thường. Trình thuật kể việc Chúa Phục Sinh hiện đến với môn đồ Ngài, ở phòng trên. Sự kiện xảy đến sau khi hai đồ đệ trên đường Emmau gặp Chúa, đã trở về. Đó là Chúa Nhật Phục Sinh. Chừng như, cùng ngày hôm ấy, Chúa đem môn đệ Ngài đến Bêtania (ngoài ô thành thánh Giêrusalem). Và từ đó, Ngài về với Cha. Vậy, phải chăng Chúa thăng thiên vào Chủ Nhật?


Sách Công vụ, cũng do thánh Luca viết, lại nói về sự kiện Chúa hiện đến với các môn đệ, vào 40 ngày sau khi Ngài gặp các tông đồ. Và lúc ấy, Ngài nói về Vương Quốc của Chúa. Chỉ sau đó, tức 6 tuần sau Phục Sinh, vào lúc “có đám mây quyện lấy Người khiến các ông không còn thấy Người nữa”. (Cv 1: 9). Nếu vậy, trình thuật nào khiến ta tin là đúng?


Về thời gian, ta có thể đưa mầu nhiệm Thăng thiên vào ngày Thứ Sáu thánh, có Tin Mừng thánh Gioan ghi: “Phần Tôi, khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi." (Ga 12: 32). Cụm từ “giương cao” có thể áp dụng vào trường hợp Chúa bị “giương cao” trên khổ giá. Nhưng, cũng có thể, Chúa được cất nhắc vào cuộc sống mới. Cuộc sống vinh quang, với Cha Ngài.


Có điều là, phân tích trình thuật về thời-gian-tính, không có nghĩa là ta sẽ làm cho người đọc thêm thắc mắc. Hoặc, bối rối. Nhưng, làm thế để nói rằng: mỗi khi đọc trình thuật kể về các chuyện xảy ra sau ngày Chúa Phục Sinh, ta cũng nên cẩn trọng. Đừng diễn giải. Bởi, đọc trình thuật thánh sử, nên tránh “đọc từng chữ”; hoặc, đọc theo cách chính thống. Triệt để. Đọc, như giáo lý viên trọng tuổi, xưa làm thế. Điều cần thiết, không ở những gì được viết, mà là ý đậm sâu về: điều được viết.


Về việc này, cũng nên áp dụng vào ý niệm Chúa Thăng thiên. Chúa về với Cha, ta không nên hiểu nghĩa đen, mà bảo: đích thị là Chúa bay lên trời. Hiểu thế, sẽ lôi kéo theo nhiều câu hỏi khác. Rất nực cười, như:”Thế, Chúa bay cao đến cỡ nào? Muốn lên trời, phải mất bao nhiêu ngày giờ? Trời là đâu thế? Có phải trên chóp bu thành Giêrusalem không? Người ở xa, làm sao đến? vv...


Thật sự thì, Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, kinh qua thống khổ. Có, nỗi chết. Có, Phục Sinh. Thăng Thiên. Có, Thần Khí Chúa đến. Kết hợp làm thành thực tại, ta không thể đả phá. Mà, chỉ có thể hiểu, bằng niềm tin. Thương yêu. Nếu Sách thánh nói: Chúa thực sự đã chết đi. Chúa đã Phục Sinh, có nghĩa là: Ngài vẫn sống. Thì, Thăng Thiên là sự kiện Chúa muốn thêm, là: Đức Giêsu Phục Sinh nay về lại với Cha, trong vinh quang.


Bài đọc chọn lựa từ thư thánh Phaolô gửi giáo hữu người Do thái, đã mô tả kinh nghiệm “Về Trời” theo ngôn ngữ của Thánh Kinh. Có văn phong Cựu Ước. Có, Đức Giêsu Kitô đích thực và duy nhất là Thượng Tế Cao Cả. Không như vị chủ tế ở đền thờ, bước vào cung thánh do người phàm dựng, thì Đấng Thánh Hiền của mọi thánh đi thẳng vào chốn hiện hữu thánh thiêng của Thiên Chúa, Đấng đại diện cho ta. Cũng không như vị chủ trì buổi lễ tế, mỗi năm tiến vào đền thánh, cũng có mang máu đến, nhưng không phải là máu của chính mình, mà của loài thú. Bằng không, Chúa sẽ cứ phải chịu khổ nhục mãi, thay cho ta.


Nay Đức Giêsu về với Cha một lần là mãi mãi, để cất đi mọi sơ suất/lỗi phạm của riêng ta. Ngài cất đi, bằng sự hy sinh của chính Ngài. Bằng chính máu thánh, của Ngài. Vì thế, Đức Giêsu không chỉ bước vào cung thánh mà thôi, nhưng Ngài còn mở ngỏ cung thánh có Thiên Chúa hiện diện, ngõ hầu đổ tràn nơi ta, máu thánh của Ngài. Máu hy sinh. Thân mình Ngài. Được máu tẩy rửa, lại có tính chất trinh trong của nước thanh tẩy; có trọn vẹn niềm tin, quyết tế hiến trọn mình cho Đức Giêsu, ta mới có thể đạt đến Chúa. Đạt, với niềm tin tưởng, là: Ngài sẽ nhận đón ta, về với Ngài.


Việc cần làm, là: khi Đức Giêsu rời nơi ta bằng xương thịt/thể xác, Ngài vẫn trông đợi là ta sẽ tiếp tục công việc Ngài từng làm. Là, ta sẽ làm những việc Ngài từng thực hiện. Cả những việc lớn lao, là: quay về với Giêrusalem. Về đó, mà đợi/mà chờ Thánh Thần Chúa, ngự đến. Thánh Thần Ngài đến vào Lễ Ngũ Tuần. Có phép Rửa thực thụ bằng Thần Khí của Ngài. Có bài sai, là: hãy tiếp công cuộc mục vụ Ngài khởi phát.


Như Chúa nói, mãi đến ngày ấy, đồ đệ Chúa mới hiểu chút ít về sứ vụ, của Đức Chúa. Cũng như ta. Hôm nay, các thánh vẫn cứ nói và cứ hỏi, chuyện trần gian. Hỏi rằng:“Thưa Thầy, có phải giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?” (Cv 1: 7) Hỏi thế, cả sau khi nghe và thấy việc Chúa làm, đầu óc các ngài vẫn chật hẹp. Gò bó. Quanh quẩn, với mộng yêu nước. Yêu thể chế. Oái ăm thay, câu trả lời vẫn không là chữ “”, thật rõ nghĩa. Rất xác định. Không rõ, như cung cách các ngài thường suy.


Và do bởi, các ngài được nhận lãnh Thần Khí Chúa ở nơi mình, thế nên, đồ đệ Chúa nay là những vị khởi đầu dựng xây Vương Triều của Chúa. Vương Triều này, không chỉ xảy đến với Israel, ở Giêrusalem. Ở Giuđêa, thôi. Nhưng, cả vào lúc xẩy đến ngày thế tận, của trái đất. Phải chi, các ngài được thấy tận mắt thành quả mà các ngài khởi đầu! Khởi đầu sự việc trao cho các ngài, và cho ta; là: truyền đạt sứ điệp Chúa rao báo, cho thế gian.


Trình thuật kể: trong lúc Đức Giêsu còn đang nói, thì này có đám mây vần vũ quyện phủ mình Ngài. Và, Chúa được cất nhắc khỏi tầm nhìn của những người đang chứng kiến. Mây quyện phủ, là dấu hiệu cho thấy Chúa hiện diện. Sách Công vụ còn kể:“Và, đang lúc các ông còn đứng đó mà nhìn ngắm, phía bầu trời”, bỗng hai “thần sứ” xuất hiện, bảo rằng:“Hỡi những người Galilê, sao còn đứng đó mà nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước về trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông thấy lúc Người ra đi.” (Lc 1: 11)


Thật ra, các thánh sẽ không tìm ra Đức Giêsu ở nơi đó, chốn “bầu trời” hay “thiên đàng” ấy nữa. Bởi, như bài thánh vịnh cho thấy: các thánh đang “hướng tầm mắt về phía dưới”. Để mà về lại Giêrusalem, chốn thành thánh của Đức Chúa. Chính lúc ấy, các thánh sẽ được thấy và được gặp Đức Giêsu, Thầy mình. Đấng, đang hiện diện từ nơi các ngài. Bên trong các ngài.

Các thánh cũng như ta, bằng vào lời nói và hành vi, vẫn mang trọng trách “đi đi mà kể lại”. Kể, về cuộc sống của Chúa. Đấng từng chịu khổ nhục, cho đến chết. Và, Ngài đã Sống lại. Các thánh và cả chúng ta nữa, cũng sẽ “đi đi mà kêu gọi” mọi người hãy triệt để hồi hướng. Trở về. Về, để thứ tha mọi lỗi lầm của chính mình. Thứ tha, ngang qua hoà giải mật thiết với Chúa. Với các người anh/người chị, ở trần gian. Với trần thế, nơi mình đang sống. Mình là thành viên.


Lễ hội Về Trời, hôm nay, uỷ thác cho mỗi người trong ta, trọng trách ấy. Trọng và trách, là “đi đi mà thực hiện” ý nghĩa của Hội Lễ, rất trang trọng.


Trong khí thế thực hiện điều được uỷ thác, ta lại cứ hân hoan ra đi cùng ca hát. Hát rằng:

“Không quên lời xưa đã ước thề,

dâng cả đời trai với sa trường.

Nam nhi cổ lai chinh chiến hề,

nào ai ngại gì vì gió sương.”

(Phạm Đình Chương – Ai Đi Chiến Dịch)

Ước thề, lời xưa đi chiến dịch. Không hẳn là chiến dịch, nhiều chinh chiến. Vẫn có thể, là những chiến và dịch của sứ vụ mở ra, với Lời của Chúa. Lời của Thánh Thần Chúa, ngày Ngài ra đi. Ngày, Thần Khí Chúa lại đến. Hôm nay. Và, lai thời. Nơi, có “không gian đụng thời gian”, rất Nước Trời.

Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com;

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com)

Friday, 30 April 2010

“Lại về với những vần thơ”



Nối dang dở để bây giờ trọn câu.

Lại về với thuở yêu đầu,

Quên đi anh nhé, dãi dầu đã qua.”

(Thơ Tế Hanh)

Ga 14: 23-29


Thơ văn ở đời, vẫn trọn câu. Trọn thơ. Trọn vần. Dù dang dở. Dở dang, là tình tự lúc ban đầu. Tình tự nhà Đạo, ta có với Chúa. Với nhau. Vẫn lặng lẽ. Yên bình. Như trình thuật, từng đúc kết.


Trình thuật thánh Gioan, nay đúc kết Lời Chúa, trọn vẹn cả thơ văn. Lẫn ý tứ. Ý Chúa dạy, là Thần Khí, Cha sai đến. Ngài đến, dẫn ta ngang qua mọi hiềm khích. Cãi tranh. Về nhiều chuyện. Ngõ hầu ta yêu mến.


Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ Lời Thầy. Và, Cha Thầy yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”. (Ga 14: 23) Như Chúa nói: điều làm chứng cho tình ta yêu Chúa, là mãi giữ Lời Ngài. Để rồi, ta sẽ trải nghiệm “Tình yêu” Chúa Cha. Có như thế, Cha và Thầy sẽ ở lại trong ta. Với ta. Đó là Lời vàng rất đáng quý, khả dĩ dẫn dắt ta đi vào đường ngay nẻo chính, suốt một đời.


Tình yêu, không là cảm giác, mà là động từ. Là, hành động. Lâu nay, ta vẫn nói: “Hôn nhân nay, đâu nào chất chứa tình yêu, nữa.” Cả đến “gia đình. Chòm xóm. Xã hội, nào có thấy xuất hiện tình yêu?” Nói như thế, không có nghĩa bảo rằng: không ai có được tình yêu (theo nghĩa cảm giác) nếu không yêu đương (theo nghĩa thực dụng). Tựa như Eliza Doolittle nói với thầy Higgins trong kịch bản “My Fair Lady”: “Thầy đừng nói về tình yêu, nhưng hãy chứng minh”. Ngày nay, ai trong chúng ta cũng có thể bắt đầu công việc chứng minh ấy. Chí ít, từ chính mình.


Với Đức Giêsu, Yêu đương vẫn có nghĩa là đương yêu. Yêu rất nhiều. Nói cách khác, tình yêu chỉ đạt thành tựu nhờ vào “giữ vững Lời Ngài”. “Lời”, không chỉ giới hạn nơi nghĩa “giới lệnh”, “tín điều”, hoặc một hành xử rất đạo đức như ta vẫn được dạy bảo, nên làm thế. “Lời” Ngài bao gồm rất nhiều thứ. “Lời”, gồm tóm những gì ta biết về Ngài. Nhờ Phúc Âm. Tức, những điều Ngài nói ra. Những việc Ngài từng làm. Quan hệ, Ngài vẫn có. Với mọi người. Đó, là nguyên tắc sống, của chính Ngài. Là, giá trị và động thái, Ngài xác chứng. Trước hết và trên hết, Lời Ngài là để dựng xây Vương Quốc Nước Trời. Ở muôn nơi.


Đức Giêsu, vốn là “Lời”. Chẳng phải, vì Lời xuất từ môi từ miệng rất thánh của Ngài. Nhưng, còn từ chính cuộc sống của Ngài. Ngay từ lúc, ở hang BêLem, chốn bò lừa. Cả vào khi, Ngài hấp hối trong ô nhục. Trên thập giá. Tuân giữ Lời Ngài, là mặc lấy cho mình tất cả những điều ấy. Tức, định danh với Lời. Biến Lời thành sự thể rất thực tế. Rất sống động. Trong đời mình. Có thể nói, “Lời” đến với ta, qua tương tác. Bằng vào kinh nghiệm ta từng trải. Ta từng có, với cộng đoàn niềm tin. “Lời”, chính là thực thể qua đó Chúa mặc khải cho ta biết, hết Sự Thật. “Lời” đến với ta, qua tạo dựng. Ở nơi đó, có Chúa là Đầu. Ở nơi đó, Ngài định hình mọi sự vật ngang qua Đấng Tạo Thành, là chính Cha.


Thần Khí Chúa trong “Lời” tỏ hiện nơi cộng đoàn Hội thánh, mang đủ tính chất, ngay từ đầu. Cả vào lúc, Chúa kêu mời các môn đệ, dấn bước theo chân Ngài. Thần Khí Chúa, nói với ta không chỉ ngang qua mỗi Đức Giáo Hoàng. Các Giám mục. Và, hàng ngũ linh mục, thôi. Nhưng, ngang qua mỗi người và mọi người. Tức, qua thành phần của Thân Mình Đức Kitô. Qua, hết mọi người. Từ già/trẻ, lớn/bé. Có học/vô học. Nam/nữ. Cho chí bầu bạn, và kẻ thù. Điều này nghe ra, ta tưởng như mới mẻ. Nhưng kỳ thực, đã có từ thời Hội thánh tiên khởi, như bài đọc 1 tường trình.


Bài đọc 1, cho thấy: nhiều vị không phải là người Do thái đã trở thành tín hữu Đức Kitô. Vẫn sống hài hoà. Hạnh phúc. Nhưng, có một số tín hữu gốc người Do thái, lại cứ muốn mọi người phải tuân thủ tục lệ vốn có từ thời cổ sử, rất Môsê. Nhất thứ, là chuyện cắt bì, cho nam nhân. Cũng thật khó, cho tín hữu có nguồn gốc người Do Thái, phải bỏ đi căn tính khác biệt. Mà họ cho rằng phải có để trở thành người của Chúa. Cho đồng nhất.


Bài đọc1, còn cho thấy: có một số Tông đồ và nhiều vị khác trong cộng đoàn không phải gốc người Do thái, đã nổi lên chống đối việc này. Kể ra, thật cũng khó mà thuyết phục được mọi người tuân theo lề thói cắt bì, khi nền y học giải phẫu lúc ấy chưa tiến bộ cho lắm. Cuối cùng thì, các thánh cũng đã đạt được một thoả thuận, là: có luật trừ. Trước nhất, là loại trừ luật cắt bì, theo tục lệ Do thái. Chỉ giữ lại, mỗi việc: “kiêng ăn đồ đã dâng cúng ngẫu thần. Kiêng ăn huyết. Kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết. Tránh gian dâm.” (Cv 15: 29).


Ngoài ra, với Hội thánh tiên khởi, cũng đã thấy có nhiều vị tuy không là người gốc Do thái, nhưng vẫn được trông đợi là phải giữ đôi điều luật dạy khi chung sống với tín hữu gốc người Do thái. Thánh Phaolô cũng đã khôn ngoan khi dùng lời lẽ khá tế nhị để viết cho giáo đoàn La Mã, như sau: “Anh em hãy chấp nhận. Đừng phê phán quan điểm. Có người tin là mình được ăn mọi sự, còn kẻ yếu thì đành ăn rau. Người ăn, cũng đừng khinh thị kẻ không ăn. Còn, kẻ không ăn cũng đừng xét đoán người ăn, vì Thiên Chúa đã chấp nhận họ.” (Rm 14: 1-3)


Trình thuật, nay cho thấy: đã có bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển Đạo Chúa. Có liên quan đến mô hình thay đổi cách triệt-để, ngõ hầu sự thật và cuộc sống thực tế, được mọi người biết đến. Mô hình thay đổi, vì một số người đã mở lòng mình để Chúa đến. Mời Chúa đến, ngang qua kinh nghiệm từng trải và hoàn cảnh sống, có phấn đấu. Mở lòng đây, là mở ra cho những gì mà cộng đoàn dân Chúa nay cần đến. Nhu cầu ấy, dù lớn nhỏ/tư riêng liên hệ đến sự sống, mỗi cá nhân.


Những năm về sau, thánh Phaolô từng cảnh báo dân con nhà Đạo về cung cách nệ cổ. Xưa cũ. Của lề luật. Như, lề thói cắt bì, và những tập tục thông thường khác của người Do thái. Trong thư gửi giáo đoàn Galát, thánh Phaolô có nói rõ: Anh chị em đã được giải phóng thật sự rồi, sao vẫn còn muốn trở về với thói lề xưa cũ ấy?


Cũng một khuynh hướng như thế, hiện đang thấy xuất hiện trong Hội thánh, hôm nay. Có nhiều vị trong Hội thánh, vẫn muốn vặn ngược kim đồng hồ, để về với quá khứ. Cứ muốn, làm sống lại các thói tục cổ xưa. Và, còn ép buộc người khác áp dụng nữa. Những người như thế, có chiều hướng dắt đưa Hội thánh đi vào đoạn kết, một cuộc đời. Hội thánh, trước nhất là cỗ xe. Là, phương tiện chuyển tải kinh nghiệm yêu thương của Đức Chúa, trải dàn đến với mọi người. Và, Hội thánh muốn trở nên trung thực với Thần Khí, cũng nên mở lòng mìnhra với thế giới. Bởi như lời một thần học gia nọ có lần viết: “Thế giới nay đang viết lịch trình để Hội thánh ngang qua.”


Chính vì Hội thánh biết nghe và nhìn vào tình cảnh của những người không phải là Do thái đã hồi hướng trở về, nên Hội thánh biết rằng mình đang được Thần Khí Chúa dẫn dắt. Một khi Hội thánh tự đóng kín lại thành một nhóm được tuyển chọn để rồi cứ ngồi ở trên mà phán xuống cho thế giới thi hành, thì khi ấy Hội thánh không còn là thánh hội, do Chúa thiết lập.


Với tư cách riêng tư hoặc tập thể, ta cũng nên tỉnh táo để có thể theo đường lối Chúa chỉ dạy. Ngõ hầu Chúa đến được với ta. trong cuộc sống. Nếu mỗi ngày ta dành cho Chúa dăm ba phút, và cứ thế tiếp tục mãi trong cuộc đời, ta sẽ trải nghiệm được tình thương yêu Ngài gửi đến với ta, mà san sẻ. Và từ đó, ta mới có thể cất bước mà ra đi. Vì người khác.


Đức Chúa vẫn muốn sẻ san với ta. Cho ta. Những gì Ngài có. Những gì Ngài từng trải nghiệm. trong cuộc sống rất người, của Ngài. Vấn đề là, ta có mở lòng ra để Ngài có cơ hội, mà ngự đến, hay không? Yêu, không là động từ, hoặc hành động rất từ từ. Mà, còn là con lộ hai chiều, ta rong bước.


Trong khí thế mở lòng để Tình Yêu đến, ta cứ vui lên mà ca hát. Hát, lời yêu thương rằng:


“Vui vui lên, lúa ơi!

Vui vui lên, lúa ơi!

Ta hát mừng bông lúa ngời xinh tươi.”

(Phạm Đình Chương – Được Mùa)

Vui lên. Hôm nay. Không chỉ vì ta được mùa lúa. Nhưng, vì Tình Yêu Chúa như lúa chín vàng, đà đến với ta. Đến cả với người trước đây thuộc gốc Do thái. Hoặc ngoài luồng. Trong Đạo. Tình Yêu đến, người người đều mãi vui. Suốt đời.


Lm Phan Đỗ thục Linh

Mai Tá diễn dịch

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com

Saturday, 24 April 2010

“Anh cho em mùa xuân,


bàn tay thơm sữa ngọt”

dải đất liền chim hót,

người yêu nhau trọn đời.

mái nhà ai mới lợp,

trẻ đùa vui nơi nơi.”

(thơ Kim Tuấn)

Ga 23-35

Mùa xuân anh cho, có tay thơm mùi sữa. Xuân mùa Chúa tặng, vẫn trĩu nặng tình thương. Tình thương Chúa tặng, có hoa mầu khoe sắc thắm. Hân hoan cả một đời. Đời người rất hân hoan, nay được diễn tả ở trình thuật, theo thánh Gioan.

Trình thuật thánh Gioan hôm nay có Chúa tỏ bày một “cuộc sống mới”. Rất Phục Sinh. Sửa đổi thân mình,bằng nhiều cách. Có trời mới. Đất mới. Như đã viết ở sách Khải huyền. Tĩnh tự “mới”, xuất hiện khá nhiều lần, ở bài đọc. Trong khi trình thuật của thánh Gioan nay ghi chú Lời Chúa, về giới lệnh rất mới. Vậy, “mới” ở đây, có nghĩa gì?

Cuộc sống mới trong Chúa. Có Chúa. Gồm tất cả những gì đã xảy đến với con người. Dù sớm muộn. Với bậc hiển thánh, cuộc sống mới chỉ xảy đến sau độ dài thời gian, khá nhiều ngày. Không thấy Chúa. Không gặp Chúa. Thánh Âu Tinh, Y Nhã, đều gặp gỡ Chúa, ở tâm linh. Thánh Têrêxa Hài Đồng, lại kết hợp cuộc sống có Chúa, ngay buổi sớm. Khi vừa đúng 24 tuổi. Còn chúng ta, vẫn luôn gặp gỡ Chúa, qua nhiều đợt sóng dâng trào nhiều trải nghiệm suốt nhiều chặng đường dài ở đời. Mỗi chặng, một kinh nghiệm. Một gặp gỡ. Có hiểu biết. Rất quyết tâm.

Cuộc sống mới, như trình thuật Chúa nói, đã qui về một “hồi hướng”. Có đổi thay. Xoay vòng. Người Hy Lạp gọi đó là meta-noia. Tức, một thay đổi rất triệt để. Có thị kiến. Có đổi thay theo thứ tự ưu tiên, nơi cuộc đời. Tức, có động thái mới. Có giá trị mới mẻ. Có tiêu chuẩn mới, sống với Chúa. Với mọi người.

Trình thuật, nay đưa ra một nền tảng giáo huấn, có chứa đựng thông điệp rất mới của Ngài. Thông điệp, không chỉ dạy ta tuân thủ 10 điều giới lệnh. Không chỉ nói về đời sống luân lý. Đạo đức, mà thôi. Thông điệp cũng chẳng bàn về sự sống thường xuyên chỉ lo mỗi chuyện xưng tội/rước lễ, mỗi một tuần. Cũng không phải để dạy ta biết dùng năng lực mình có, mà yêu Chúa.

Điều Ngài nhấn mạnh, là: hãy yêu thương hết mọi người, như Ngài hằng thương mến. Đó là giới lệnh rất mới. Cựu Ước từng dạy ta yêu Chúa hết lòng hết trí. Và cũng thương yêu người đồng loại, như chính mình. Đức Kitô thêm vào đó, một yếu tố mới, hầu xét nghiệm xem ta có là đồ đệ đích thực của Ngài không. Hãy nhớ rằng: lời vàng dẫn ta đến với tình thương yêu mà loài người thực hiện được, là: hãy sống hết mình vì người khác. Điều mới này, được xác chứng bằng việc Ngài từng chấp nhận khổ hình. Và nỗi chết. Và thực hiện sự sống lại hiển vinh để thương ta. Thương mình ta.

Mức độ tình yêu Ngài ban cho đời là để kêu mời mọi người hãy tìm ra cung cách mới, mà suy tư. Nhận thức. Để rồi, sẽ hành xử, trong tương tác, với người khác. Đó là xét nghiệm nhỏ để thử xem mức độ yêu thương ta dành cho Chúa, đạt đến mức độ nào. Vấn đề là: hãy tự kiểm điểm xem đó có là cung cách sống cuộc đời người tín hữu như ta vẫn thực hiện, hay không.

Là đồ đệ, ta không chỉ là cá nhân riêng lẻ, để sống. Nhưng còn là nhân vị luôn tương tác. Hỗ trợ. Là tín hữu, ta không chỉ được định danh là những người sống theo cung cách riêng rẽ. Sống có luân lý. Có đạo đức không thôi. Nhưng, còn sống theo cách tương tác/hỗ trợ mọi người. Bởi lẽ, người tín hữu mà lại sống rất riêng. Đơn độc. Xa cách. Là hành xử mâu thuẫn lại chức năng của mình. Bởi, lẽ cuộc sống của người Kitô hữu luôn được đo lường bằng mức độ tương tác. Với người khác. Tức, có tương quan đằm thắm, với mọi người.

Yêu thương – trìu mến, là cụm từ thường hay gây ngộ nhận. Nó bao hàm một tình huống có cảm xúc. Xót xa. Đậm đà. Như tình tự chiều chuộng. Gợi nhớ. Suy tưởng. Thương mến như thế, hẳn không là ý nghĩa mà thánh Gioan từng sử dụng. Ngài sử dụng cụm từ lòng mến theo nguyên ngữ tiếng Hy Lạp agapè, tức “lòng mến thương”. Dứt khoát không mang dáng dấp trữ tình. Tức, tình tự giữa hai người nam nữ. Hoặc đồng tính.

Nói đúng hơn, cụm từ agapè hàm ngụ một động thái biết quan tâm đến người khác. Ưu tư săn sóc niềm vui sống của người khác. Chứ, không là tình cảm quay ngược về mình. Không cần biết “người khác” đó có đáp trả bằng ưu tư, rất tương tự. Hay không.

Đây là cung cách ta vẫn gặp thấy ở Đức Kitô. Tức, thái độ mà Chúa hiển thị với tội phạm. Kẻ sa đà. Người phạm lỗi. Đối với một số người, thật khó mà đề nghị: hãy thương mến những hung ác/dữ tợn, như: Hitler, Stalin, hoặc các tên sát nhân. Hiếp nguời. Cướp của, Điều đó, thật vô nghĩa. Nên, Đức Chúa chẳng trông mong gì ở ta, sẽ lập ra kịch bản giả tạo. Kệch cỡm. Khó tin.

Cách nào đó, có thể nói: thương hoặc mến Hitler, Stalin hoặc kẻ xấu bụng nào khác từng đem đến cho ta những tình huống khó xử. Khó chấp nhận. Tức những người, mà ta tin rằng đã làm ta khổ sở. Đớn đau. Khó sống. Hoặc, những người từng đối xử với ta theo cung cách không thể chấp nhận được. Nhưng, ta vẫn cứ “thương” và “mến” kẻ nghịch thù mình. Vẫn cứ nguyện cầu cho họ. Vẫn cầu Chúa chúc phúc họ. Để, họ có thể đổi thay cuộc sống, bằng cách nào đó, thích hợp hơn. Thích hợp, là phù hợp với cuộc sống tươi vui. An bình. Của chính mình.

Đó còn là lý do để ta có thể nói: đồ đệ Chúa thực ra chả có kẻ thù nào xứng danh là nghịch thù, thực sự. Đây là cách Chúa làm, khi Ngài nguyện cầu Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài vào thập giá. Ngài không thương mến họ theo kiểu những người thân quen trong gia đình thương mến nhau. Nhưng, như những người đang cần sự soi sáng để có thể thực hiện điều tốt đẹp. Trong cuộc sống. Thực hiện, không để cho Chúa. Mà cho chính mình.

Khi quan tâm/chăm sóc cả những kẻ nghịch thù từng gây thương tổn cho Ngài, Chúa vẫn làm với ý nghĩa của “lòng mến” đậm sâu. Cả vào lúc Ngài chấp nhận cuộc khổ hình. Cùng cực. Và chết đi. Bài đọc 1 sách Công vụ, ta còn thấy một loại hình khác của lòng thương mến, nơi đồ đệ Chúa, như thánh Phaolô, Banaba. Hai thánh nhân từng kinh qua đủ mọi loại khó khăn/khổ ải, để thông điệp Chúa có thể đạt đến, với mọi người. Và người tín hữu Đức Kitô được hỗ trợ, hầu duy trì niềm tin nơi Chúa, cho đến cùng.

Một vấn đề đặt ra cho ta, mà hỏi rằng: là tín hữu, ta đã thực sự quan tâm/săn sóc người khác chưa? Người khác, là những kẻ đang có nhu cầu cấp bách nhất, dù chỉ yêu thương. Giùm giúp.Hay, ta vẫn chỉ lo lắng mỗi bản thân? Bạn bè? Cùng quyến thuộc, mà thôi? Guơng lành của Chúa, vẫn còn đó, chờ đợi ta. Chờ đợi, để ta biết mà san sẻ niềm tin. Tình thương yêu. Với hết mọi người. Càng nhiều càng tốt. Hãy cứ làm.

Bài đọc 2, sách Khải huyền mở ra cho ta ảnh hình về một sẻ san, rất đúng cách. Đúng cung cách, như Lời Chúa đã bộc lộ: nhờ biết san sẻ mà những người có tràn đầy “lòng mến” của Đức Chúa, đã có thể đi vào cuộc sống của mọi người. Bằng cách này, là: ngang qua những hỗ trợ/tương tác có lòng thương mến, đối với nhau. Nhờ đó, “trời mới”, “đất mới”. “Giêrusalem mới”, đã bắt đầu đi vào hiện thực. Đi vào, không phải ở thời tương lai. Mai hậu. Nơi nào đó. Nhưng, ở đây. Lúc này.

Thành thử, ngay bây giờ, việc ta cần làm, là: hãy dõi theo chân Chúa, Đấng có lòng mến tuôn trào với mọi người. Hãy dõi theo, để thực hiện cuộc đổi mới.

Trong quyết tâm thực hiện cuộc đổi mới, ta sẽ hát lên lời ca vang phấn khởi, rằng:

“Tôi vẫn tin vào ngày mai,

Là ngày tươi sang đẹp trời.

Tôi vẫn tin vào đổi thay,

Tuy hôm nay, còn đây bao nhiêu nỗi đắng cay.”

(Quốc Dũng – Tôi Vẫn Tin Một Ngày Mai)

Tin vào ngày mai, hay hôm nay, vẫn còn đó Lời Chúa. Lời tỏ bày, cho muôn người. Có “mùa Xuân anh cho”. Có “bàn tay thơm, sữa ngọt”. Có “đất liền chim hót”. Người người yêu nhau. Suốt một đời.

Lm Phan Đỗ Thục Linh

Mai Tá diễn dịch.

(Xem them các bài khác, xin mời vào: www.suyniemloingai.blogspot.com;

www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

www.giadinhanphong.blogspot.com)